vanban.org

Bản án 24/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu Tuyên án 18/02/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Thùng Văn C phạm tội: “Hiếp dâm”

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Thùng Văn C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù của bị c o được tính từ ngày bị c o đi chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hiếp dâm - phạm tội hiếp dâm (điều 141 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Thùng Văn C phạm tội: “Hiếp dâm”
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHONG THỔ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

n n số: 24/2021/HS - ST
Ng y: 18/01/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương.

- Các hội thẩm nhân dân: Bà Đ Thị Hòa - Bà Trần Thị Mùi

- Thư ký phiên toà: Bà Lù Thị Xuân - Thư ký To n nhân dân huyện Phong Thổ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên toà: Bà Trần Thanh Nhài - Kiểm sát viên

Ngày 18/01/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2020/TLST - HS, ngày 18/12/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2021/QĐXXST - HS ngày 05/01/2021 đối với bị cáo:

Thùng Văn C (Tên gọi khác: Không); Sinh năm: 1952. Nơi sinh: Sìn Hồ, Lai Châu.

Nơi ĐKHKTT: Thôn Đo n Kết, thị trấn Phong Thổ, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu

Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 5/10; Dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lường Văn Dao (đã chết); Bố dượng: Thùng Văn Thầy (đã chết) và bà: Lò Thị Đ n (đã chết), vợ Lò Thị Xanh, sinh năm: 1955v có 05 con; (05 con đã đủ tuổi trưởng thành).

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/9/2020 tại thôn Đo n Kết, thị trấn Phong Thổ, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, hiện có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp cho bị hại Lù Thị Đ (mắc bệnh tâm thần) Bà Lò Thị S, sinh năm: 1972; Ông Lù Văn Đô, sinh năm; 1972 (là bố, mẹ đẻ của Lù Thị Đ)

Cùng trú tại: Thôn Đo n Kết, thị trấn Phong Thổ huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu (đều có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Lù Thị Đ: Ông Nguyễn Công Hưởng - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp ph p lý Nh nước tỉnh Lai Châu.(có mặt)

- Người làm chứng:

Ông Điêu Văn Ộ, sinh năm: 1945

Nơi cư trú: Thôn Đo n Kết, thị trấn Phong Thổ, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ n được tóm tắt như sau:

Kho ng 15 giờ 00 phút ng y 04/9/2019, Thùng Văn C đi chăn th trâu ở khu vực bờ sông Nậm Na gần bãi cát của doanh nghiệp tư nhân Th nh Đạt thuộc địa phận Thôn Đoàn Kết, Thị trấn Phong Thổ, huyện Phong Thổ. Tại đây C gặp chị Lù Thị Đ sinh năm 1997 l người bị khuyết tật, “mắc bệnh tâm thần chậm phát triển tâm thần nặng, mất khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi”, chị Đ đi đến và ngồi xuống bên cạnh C. Khi Đ ngồi xuống, C n y sinh ý định muốn quan hệ tình dục với Đ để thỏa mãn nhu cầu sinh lý của mình. Do Thùng Văn C biết Đ bị khuyết tật, tâm thần nên Thùng Văn C l m động tác, dùng hai tay của C vòng vào nhau và nói với Đ “lại muốn quan hệ tình dục nữa à” thì thấy Đ vừa cười vừa gật đầu. C chỉ tay về trước có bụi cây ở gần t luy dương c ch vị trí C và Đ đang ngồi 12,70 mét và C đi trước, Đ đi sau. Khi C đi đến cạnh vị trí bụi cây, C lấy 01 m nh bạt từ trong túi v i đang đeo trên người ra tr i xuống nền đất, Đ nằm xuống m nh bạt, cởi cúc áo chống nắng ra, rồi dùng tay kéo vén chiếc áo phông khoét nách (Đ không mặc áo ngực), rồi cởi chiếc quần bò màu xanh và tụt chiếc quần lót đang mặc trên người ra khỏi chân bên ph i, còn chân bên trái Đ tụt xuống đến đầu gối và nằm ở tư thế ngửa mặt lên trên, hai tay Đ dang sang hai bên, hai chân ở tư thế dạng sang hai bên hình chữ V. Trong lúc Đ cởi quần, Thùng Văn C đứng bên cạnh cũng dùng tay tháo dây thắt lưng của mình và cởi chiếc quần v i m u đen đang mặc trên người để ra bên cạnh, sau đó kéo chiếc quần đùi m u xanh đang mặc trên người xuống dưới đầu gối, rồi quỳ hai đầu gối xuống m nh bạt ở phía bên trong hai chân của Đ, dùng tay cầm đầu dương vật của mình áp sát vào âm hộ của Đ, sau đó dùng hai tay sờ xoa bóp hai vú của Đ được kho ng 10 phút nhưng Thùng Văn C thấy dương vật của mình chưa cương cứng nên Thùng Văn C dùng tay ph i cầm v o dương vật sóc đi sóc lại nhiều lần để dương vật cương cứng và dùng tay trái xoa vào âm hộ v âm đạo của Đ được kho ng 02 phút thì Thùng Văn C thấy âm đạo của Đ tiết ra nhiều chất dịch nhầy v lúc n y dương vật của Thùng Văn C đã cương cứng, nên C dùng tay cầm dương vật đã cương cứng cho v o bên trong âm đạo của Đ dập đi dập lại nhiều lần được kho ng 03-04 phút thì thấy dương vật không cương cứng nữa và không xuất tinh được nên Thùng Văn C rút dương vật ra khỏi âm đạo của Đ. Do dương vật của C có dính nhiều chất dịch nhầy từ âm đạo của Đ nên C lấy quần lót của Đ ở đầu gối bên chân trái của Đ lau dương vật cho sạch. Sau đó, Thùng Văn C đứng dậy mặc quần rồi đi chăn th trâu tiếp, Đ cũng đứng dậy mặc quần áo rồi đi về nhà. Kho ng 15 giờ 30 phút cùng ngày 04/9/2019 Đ đi về đến nhà dùng tay mô t với mẹ đẻ là bà Lò Thị Sơn về việc ông C có quan hệ tình dục với Đ. Sau đó, b Sơn dẫn Đ đến nhà ông C nhưng không có ai ở nh nên b Sơn đến nh ông M ng Văn Tướng sinh năm 1959 l trưởng thôn Đo n Kết để trình báo. Tại nh ông tướng, Thùng Văn C đã khai nhận hành vi quan hệ tình dục với Lù Thị Đ vào cùng ngày 04/9/2019 và bà Lò Thị Sơn đã l m đơn trình b o Công an để xử lý theo quy định của pháp luật.

B n kết luận gi m định pháp y về tình dục số 83/BKL - TTPY ngày 13/9/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Lai Châu, kết luận: Hiện tại màng trinh Lù Thị Đ có điểm rách cũ điểm 6 giờ. Hiện tại Lù Thị Đ không mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, bệnh xã hội. Hiện tại trong tử cung Lù Thị Đ không có thai. Trong âm đạo Lù Thị Đ không tìm thấy tinh trùng và xác tinh trùng.

B n Kết luận pháp y về ADN số 242/19/TC- ADN ngày 20/9/2019 của Viện pháp y quốc gia, kết luận:

- Thử định tính phát hiện nhanh vết tinh dịch người trên áo và chiếc quần dài của Lù Thị Đ: Âm tính.

- Thử định tính phát hiện nhanh vết tinh dịch người trên chiếc quần lót của Lù Thị Đ: Dương tính.

- Không thu được dữ liệu ADN đầy đủ từ chiếc áo của Lù Thị Đ trên các Locus STR đã phân tích.

- ADN thu từ chiếc quần dài của Lù Thị Đ trùng khớp hoàn toàn với ADN của Lù Thị Đ.

- Không phát hiện ADN của Thùng Văn C trên chiếc quần dài của Lù Thị Đ

- ADN thu từ chiếc quần lót của Lù Thị Đ trùng khớp hoàn toàn với ADN của Thùng Văn C.

B n kết luận pháp y về ADN số 122/20/TC-ADN ngày 16/4/2020 của Viện pháp y quốc gia, kết luận: Thử định tính phát hiện nhanh vết tinh dịch người trên m nh v i bạt gửi gi m định: Âm tính. Không thu giữ được dữ liệu ADN đầy đủ từ m nh v i bạt gửi gi m định nên không so sánh với ADN của Thùng Văn C, Lù Thị Đ.

B n kết luận gi m định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 102/KLGĐ ngày 19/12/2019 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc, kết luận:

1. Lù Thị Đ sinh năm 1997 trú tại Thôn Đoàn Kết, thị trấn Phong Thổ, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu bị bệnh tâm thần: Chậm phát triển tâm thần nặng (theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 về xá rối loạn tâm thần và hành vi – F72.

2. Tại thời điểm xảy ra vụ việc ngày 04/9/2019 Lù Thị Đ bị bệnh tâm thần: Chậm phát triển tâm thần nặng, mất khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi.

3. Hiện tại Lù Thị Đ bị bệnh tâm thần: Chậm phát triển tâm thần nặng, mất khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi.

B n kết luận gi m định pháp y về thương tích số 46/BKL - TTPY ngày 09/4/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Lai Châu, kết luận: Hiện tại trên thân thể của Lù Thị Đ không thấy tổn thương n o khác. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lù Thị Đ là 0% (Không phần trăm).

Vật chứng thu giữ gồm:

Thu giữ của Lù Thị Đ: 01 chiếc quần bò màu xanh, cạp quần phía sau có ghi dòng chữ GUESS Premium; 01 áo phông khoét nách màu trắng trên o có điểm nhiều chấm tròn m u đỏ đen xanh, có nhiều hình hoa văn; 01 chiếc áo loại chống nắng màu xanh nhạt trên áo có nhiều hình hoa văn; 01 chiếc quần lót màu nâu sọc đỏ đã qua sử dụng. Thu giữ của Thùng Văn C: 01 quần dài loại quần v i m u đen; 01 o sơ mi d i tay m u x m, gần cổ áo có ghi dòng chữ SCENT BY LONDON, áo cũ dính nhiều nhựa bám; 01quần đùi m u xanh thẫm hai bên có kẻ sọc màu xanh dương loại quần chun; 01 dây lưng m u đỏ thẫm mặt thắt lưng có hình ngôi sao năm c nh, 01 m nh bạt hình chữ nhật được cắt ra từ vỏ bao xi măng có kích thước 96 x 75cm. Số vật chứng nêu trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ.

Qu trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, những người đại diện hợp pháp của bị hại và những người làm chứng đều có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo.

Tại phiên tòa đại diện bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường các kho n chi phí thực tế và bồi thường tổn thất về tinh thần do danh sự, nhân phẩm do bị xâm phạm, tổng số tiền đại diện bị hại yêu cầu là 26.900.000 đồng. Bị c o không đồng ý với mức bồi thường m người bị hại đưa ra, vì vậy giữa người bị hại và bị cáo không thỏa thuận được với nhau về mức bồi thường.

Tại b n cáo trạng số: 03/CT - VKS ngày 18/12/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo Thùng Văn C về tội “ Hiếp dâm”, theo quy định tại kho n 1 Điều 141 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng. Sau khi xem xét đ nh gi tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng kho n 1 Điều 141; điểm s kho n 1, 2 điều 51; điều 38 - Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Thùng Văn C từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại kho n 5 điều 141 - Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 - Bộ luật hình sự; Các Điều 584, 585, 586, 592 - Bộ luật dân sự. Đề nghị bị cáo bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm đối với bị hại Lù Thị Đ mức tiền là 26.900.000 đồng.

Về vật chứng: Căn cứ v o điều 47 - Bộ luật hình sự; điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 chiếc quần bò màu xanh, cạp quần phía sau có ghi dòng chữ GUESS Premium; 01 áo phông khoét nách màu trắng trên áo có điểm nhiều chấm tròn m u đỏ đen xanh, có nhiều hình hoa văn; 01 chiếc áo loại chống nắng màu xanh nhạt trên áo có nhiều hình hoa văn; 01 chiếc quần lót màu nâu sọc đỏ của chị Lù Thị Đ vì không còn giá trị sử dụng.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 quần dài loại quần v i m u đen; 01 o sơ mi d i tay màu xám, gần cổ áo có ghi dòng chữ SCENT BY LONDON, áo cũ dính nhiều nhựa bám; 01quần đùi m u xanh thẫm hai bên có kẻ sọc màu xanh dương loại quần chun; 01 dây lưng m u đỏ thẫm mặt thắt lưng có hình ngôi sao năm c nh; 01 m nh bạt hình chữ nhật được cắt ra từ vỏ bao xi măng có kích thước 96 x 75cm của bị cáo Thùng Văn C vì không còn giá trị sử dụng.

Về án phí: Bị c o l người cao tuổi căn cứ vào điểm đ kho n 1 điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/U TVQH14 quy định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ng y 30 th ng 12 năm 2016, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người b o vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Lù Thị Đ:

Bị c o đã lợi dụng việc không có kh năng tự vệ của bị hại để quan hệ tình dục với bị hại, mặc dù bị hại đồng ý cho bị cáo quan hệ tình dục nhưng người bị hại đã mất năng lực nhận thức v điều khiển hành vi. Vì vậy, bị c o đã quan hệ tình dục với bị hại thì bị coi là hành vi hiếp dâm. Đề nghị căn cứ v o c c Điều 584, 585, 586, 592 - Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo ph i bổi thường cho đại diện bị hại các kho n tiền chi phí thực tế và kho n tiền tổn thất về tinh thần là 26.900.000 đồng.

Bị cáo không bổ sung ý kiến gì thêm và nhất trí với b n cáo trạng, luận tội và không tranh luận với b n luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân dân huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu. Bị c o không đồng ý với mức bồi thường mà Người b o vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Lù Thị Đ yêu cầu là 26.900.000 đồng.

Đại diện bị hại, người b o vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Lù Thị Đ giữ nguyên mức yêu cầu bồi thường là 26.900.000 đồng v đề nghị xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã tuổi cao sức yếu và rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, rất mong Hội đồng xét xử xem xét gi m nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ n, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ n đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, Kiểm sát viên trong qu trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qu trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, c c h nh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Lời khai của bị c o trong giai đoạn điều tra, truy tố, và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với biên b n khám nghiệm hiện trường; Kết luận gi m định phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ n đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Kho ng 15 giờ 00 phút ngày 04/9/2019 Thùng Văn C đi chăn th trâu và cũng thấy chị Đ đi chăn th trâu sau đó chị Đ lại ngồi cạnh C, C n y sinh ý định quan hệ tình dục với chị Lù Thị Đ. C nói với chị Đ: “lại muốn quan hệ tình dục nữa ” thì chị Đ đồng ý, sau đó chị Đ tự cởi quần dài và quần lót của mình, C cũng cởi quần dài và quần đùi của mình dùng tay đưa dương vật đã cương cứng vào bộ phận sinh dục của chị Đ, sau đó dùng hai tay sờ và xoa bóp hai vú của chị Đ. C đã quan hệ tình dục với chị Đ kho ng 03 đến 04 phút. Sau khi giao cấu với chị Đ xong C mặc quần đi chăn th trâu tiếp, chị Đ về nhà kể lại sự việc cho mẹ là chị Lò Thị Sơn nghe. Tại b n kết luận gi m định pháp y về tình dục kết luận: “M ng trinh có điểm rách cũ điểm 6h, hiện tại tử cung chị Đ không có thai, trong âm đạo của chị Đ không tìm thấy tinh trùng v x c tinh trùng”, và tại b n kết luận gi m định pháp y tâm thần kết luận: “Lù Thị Đ bị bệnh tâm thần: Chậm phát triển tâm thần nặng, mất kh năng nhận thức và mất kh năng điều khiển hành vi”

Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “ Hiếp dâm”. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ truy tố bị cáo Thùng Văn C về tội: “Hiếp dâm” theo quy định tại kho n 1 Điều 141 Bộ luật hình sự l đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét về tính chất mức độ h nh vi phạm tội của bị c o l nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, sức khỏe của người kh c được ph p luật b o vệ. Bị cáo l người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc quan hệ tình dục với người mất năng lực nhận thức và mất kh năng điều khiển hành vi là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bởi người mất năng lực nhận thức và mất kh năng điều khiển h nh vi được coi l người không có năng lực tự vệ. Vì vậy hành vi của bị cáo quan hệ tình dục với người không có năng lực tự vệ thì bị coi là hành vi hiếp dâm. Hành vi phạm tội của bị c o đã nh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn, cần ph i được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Cần ph i cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời có tác dụng phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Tại phiên tòa người b o vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại chị Lù Thì Đ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 48 - Bộ luật hình sự; C c Điều 584, 585, 586, 592 - Bộ luật dân sự. Đề nghị bị cáo bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm đối với bị hại Lù Thị Đ mức tiền là 26.900.000 đồng v đề nghị xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật. Việc đề nghị về mức bồi thường của người b o vệ quyền và lợi ích hợp pháp là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong qu trình điều tra truy tố và tại phiên tòa bị c o đã th nh khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị c o l người cao tuổi (68 tuổi). Hội đồng xét xử xem xét cho bị c o được hưởng các tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s kho n 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tuy nhiên bị cáo là người cao tuổi là một người cha, người ông trong gia đình lẽ ra bị cáo sống có ích để c c con ch u noi gương, nhưng bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội, nên Hội đồng xét xử cũng xem xét một mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Xét thấy yêu cầu bồi thường của đại diện hợp pháp của bị hại Lù Thị Đ, người b o vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại chị Lù Thì Đ là phù hợp và có căn cứ pháp luật, do vậy căn cứ v o điều 48 - Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, kho n 1 điều 586, 592 và 357, 468 - Bộ luật dân sự cần buộc bị cáo ph i bồi thường cho bị hại các kho n bồi thường như sau:

- Chi phí hợp lý cho việc chị Đ đi gi m định tại Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía bắc từ ng y 22/11/2019 đến ngày 20/12/2019 (28 ngày), có 01 người đi cùng chị Đ để chăm sóc trong thời gian gi m định (tiền ăn, uống của 02 người) là: 100.000 đồng x 28 ng y x 02 người = 5.600.000 đồng; Tiền vé xe kh ch 500.000 đồng; tiền thuê phòng nghỉ 01 ng y 300.000 đồng. Tổng chi phí 6.400.000 đồng

- Tiền thu nhập thực tế bị mất của đại diện bị hại (01 người) trong thời gian chăm sóc chị Đ tại Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía bắc từ ngày 22/11/2019 đến ngày 20/12/2019 là 28 ngày x 200.000 đồng/ng y (căn cứ ý kiến của cán bộ công chức tại địa phương thu nhập bình quân 200.000 đồng/ngày) = 5.600.000 đồng.

- Tiền tổn thất về tinh thần: 10 th ng x 1.490.000 đồng/tháng = 14.900.000 đồng.

Tổng các kho n ph i bồi thường là: 26.900.000 đồng ( Hai mươi sáu triệu chín trăm nghìn đồng).

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại kho n 5 điều 141 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Vật chứng:

01 chiếc quần bò màu xanh, cạp quần phía sau có ghi dòng chữ GUESS Premium; 01 áo phông khoét nách màu trắng trên o có điểm nhiều chấm tròn màu đỏ đen xanh, có nhiều hình hoa văn; 01 chiếc áo loại chống nắng màu xanh nhạt trên áo có nhiều hình hoa văn; 01 chiếc quần lót màu nâu sọc đỏ thu giữ của chị Đ không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

01 quần dài loại quần v i m u đen; 01 o sơ mi d i tay m u x m, gần cổ áo có ghi dòng chữ SCENT BY LONDON, áo cũ dính nhiều nhựa bám; 01quần đùi màu xanh thẫm hai bên có kẻ sọc màu xanh dương loại quần chun; 01 dây lưng m u đỏ thẫm mặt thắt lưng có hình ngôi sao năm c nh; 01 m nh bạt hình chữ nhật được cắt ra từ vỏ bao xi măng có kích thước 96 x 75cm thu giữ của bị cáo không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy .

Về án phí: Bị cáo l người cao tuổi (68 tuổi) nên Hội đồng xét xử xem xét miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm là 1.345.000 đồng (26.900.000 đồng x 5% = 1.345.000 đồng)

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Thùng Văn C phạm tội: “Hiếp dâm”

1. Về hình phạt:

Căn cứ vào: Kho n 1 Điều 141; điểm s kho n 1, 2 điều 51; điều 38 - Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Thùng Văn C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù của bị c o được tính từ ngày bị c o đi chấp hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ v o Điều 48- Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, kho n 1 điều 586, 592 và 357, 468 - Bộ luật dân sự. uộc bị c o Thùng Văn C ph i bồi thường số tiền 26.900.000 đồng (Hai mươi sáu triệu chín trăm nghìn đồng) cho đại diện bị hại chị Lò Thị Sơn; sinh năm: 1972; trú tại: Thôn Đo n Kết, thị trấn Phong Thổ, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

Về thực hiện trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ tr tiền:

“ Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015”

2. Về vật chứng: Căn cứ vào điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 chiếc quần bò màu xanh, cạp quần phía sau có ghi dòng chữ GUESS Premium; 01 áo phông khoét nách màu trắng trên o có điểm nhiều chấm tròn m u đỏ đen xanh, có nhiều hình hoa văn; 01 chiếc áo loại chống nắng màu xanh nhạt trên áo có nhiều hình hoa văn; 01 chiếc quần lót màu nâu sọc đỏ đã qua sử dụng thu giữ của chị Lù Thị Đ.

Tịch thu tiêu hủy 01 quần dài loại quần v i m u đen; 01 o sơ mi d i tay màu xám, gần cổ áo có ghi dòng chữ SCENT BY LONDON, áo cũ dính nhiều nhựa bám; 01quần đùi m u xanh thẫm hai bên có kẻ sọc màu xanh dương loại quần chun; 01 dây lưng m u đỏ thẫm mặt thắt lưng có hình ngôi sao năm c nh; 01 m nh bạt hình chữ nhật được cắt ra từ vỏ bao xi măng có kích thước 96 x 75cm của bị c o Thùng Văn C.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/12/2020 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ với Chi cục THADS huyện Phong Thổ).

3. Về án phí: Căn cứ v o điểm đ kho n 1 điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/U TVQH14 quy định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 th ng 12 năm 2016, miễn toàn bộ 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.345.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại Lù Thị Đ (bà Lò Thị Sơn, ông Lù Văn Đông); Người b o vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Lù Thị Đ là Ông Nguyễn Công Hưởng có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu.

“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.''

Cỡ chữ