vanban.org

Bản án 24/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 23/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn U phạm tội "Cố ý gây thương tích".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đinh Văn U 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2021. Về trách nhiệm dân sự: Miễn xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn U cố ý GTT - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn U phạm tội "Cố ý gây thương tích".
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ QUAO
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2021/HS-ST
Ngày 23-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tôn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Liềm.

2. Ông Danh Út Nhỏ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Vũ Đức, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên tòa: Ông Phan Hoài Vinh, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 27/2021/TLST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:

Đinh Văn U (tên gọi khác: UT), sinh năm 1990, nơi sinh: Gò Quao - Kiên Giang. Nơi cư trú: ấp x, xã VHHB, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang; CMND số: 371420346; nghề nghiệp: Không ổn định; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn Hùng và bà Huỳnh Thị Há, vợ là Kim Yến và 01 con sinh năm 2017; anh chị em ruột có 04 người, lớn sinh năm 1981, nhỏ nhất là bị cáo. Tiền án: Không, tiền sự: 03 tiền sự; trong đó 02 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 20/01/2021 và ngày 24/02/2021 bị Công an xã Vĩnh Hòa Hưng Bắc ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt 1.000.000đ (Một triệu đồng); 01 tiền sự về hành vi xâm hại sức khỏe người khác, ngày 18/5/2021 bị Chủ tịch UBND xã Vĩnh Hòa Hưng Bắc ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm ngàn đồng). Bị cáo bị tạm giam theo lệnh bắt để tạm giam số 14 ngày 27/5/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Gò Quao (bắt ngày 03/6/2021), có mặt.

Bị hại: Chị Kim Y, sinh năm 1999. Nơi cư trú: ấp X, xã VHHB, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị K, sinh năm 1981. Nơi cư trú: ấp CG, xã NG, huyện GR, tỉnh Kiên Giang. Có mặt

Người làm chứng: Anh Đinh Văn G, sinh năm 1988. Nơi cư trú: ấp X, xã VHHB, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ ngày 02/3/2021 chị Kim Y (đang mang thai 6 tuần) chở con là cháu Đinh Yến L1 đi chơi về đến nhà thuộc ấp X, xã VHHB, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Lúc này, Đinh Văn U la mắng chị Y về việc “rước con xong rồi bỏ đi chơi ở đâu không rõ”. U kêu chị Y đi vào nhà, nhưng chị Y không chịu đi vào mà đứng ở ngoài đường lộ đal. Nên U tức giận và đi vào khu vực bếp, lấy cây dao yếm dài 40cm chặt (chém) vào cổ chân trái của chị Y gây thương tích, còn chị Y đang ngồi xổm. Đồng thời, U nắm tay kéo chị Y vào nhà thì phát hiện cổ chân trái chị Y chảy máu. Sau đó, chị Y gọi điện thoại nói cho bà Võ Thị K (là mẹ ruột), rồi đưa chị Y đến Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ cấp cứu, điều trị. Quá trình điều trị thương tích bệnh viện xác định chị Y đã bị sẩy thai. Trước đó, bị cáo Đinh Văn U đã nhiều lần đánh đập chị Y; đến ngày 24/4/2021 chị Kim Y gửi đơn đến Cơ quan điều tra yêu cầu xử lý bị cáo Đinh Văn U theo quy định của pháp luật.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 211/TgT ngày 19/5/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Kiên Giang kết luận như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo phần mềm vùng cổ chân trái.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 02 % (Hai phần trăm).

3. Vật gây thương tích: Vật sắc.

4. Hiện tại Kim Yến không có thai

Vật chứng: 01 (một) cây dao yếm dài 40cm, bề bản rộng nhất 6,5cm, lưỡi dao dài 30cm, mũi nhọn, một bề bén. Cán bằng gỗ (loại gỗ tròn) dài 10cm. Trên lưỡi dao có chữ “C-YÊN”. Hiện đang bảo quản tại kho vật chứng – Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Kim Y và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị K không yêu cầu bị cáo phải bồi thường các khoản chi phí điều trị cho chị Yến.

Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKSND-GQ ngày 10/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Đinh Văn U về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tại phiên tòa bị hại yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 134, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đinh Văn U mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù giam.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu thêm nên miễn xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây dao yếm dài 40cm, bề bản rộng nhất 6,5cm, lưỡi dao dài 30cm, mũi nhọn, một bề bén. Cán bằng gỗ (loại gỗ tròn) dài 10cm. Trên lưỡi dao có chữ “C-YÊN”.

Bị cáo thừa nhận hành vi của mình như Cáo trạng truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện Gò Quao, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Đinh Văn U hoàn toàn nhận thức được rằng cây dao yếm mà bị cáo dùng để gây thương tích chị Y là loại hung khí nguy hiểm, chỉ vì chị Y chở con đi chơi về nhà muộn mà bị cáo đã dùng cây dao yếm chém chị Y trong khi chị Y đang mang thai gây nên thương tích ở cổ chân trái cho chị Y. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do các thương tích trên gây nên hiện tại là 02% (hai phần trăm) và làm chị Y bị sẩy thai. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định pháp y về thương tích số 211/TgT ngày 19/5/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Kiên Giang.

Điều 134 Bộ luật hình sự quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

…”

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác. Hành vi của bị cáo U đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất mức độ phạm tội của bị cáo thể hiện như sau: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của chị Y, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Giữa bị cáo và bị hại là vợ chồng, lẽ ra bị cáo phải có trách nhiệm yêu thương, chăm sóc trong khi vợ mình đang mang thai, ngược lại khi xảy ra mâu thuẫn vợ chồng bị cáo lại có cách xử sự bạo lực; bị cáo dùng cây dao yếm chém vào cổ chân gây thương tích cho chị Y và dẫn đến bị sẩy thai. Hành vi của bị cáo cho thấy bị cáo xem thường sức khỏe người khác, với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nên cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm đủ sức răn đe và nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo sống chấp hành theo quy định của pháp luật, biết tôn trọng sức khỏe của người khác, đồng thời phòng ngừa chung cho loại tội phạm này.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; qua tài liệu thu thập có trong hồ sơ thể hiện bị cáo có 03 tiền sự; trong đó có 02 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XPHC ngày 20/01/2021 và quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 09/QĐ-XPHC ngày 24/02/2021 của Công an xã Vĩnh Hòa Hưng Bắc và 01 hành vi về xâm hại sức khỏe người khác theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 107/QĐ-XPVPHC ngày 18/5/2021 của Chủ tịch UBND xã Vĩnh Hòa Hưng Bắc. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo khi lượng hình.

Về nhân thân: Ngày 02/8/2011 bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 18 tháng tù giam về hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản và Gây rối trật tự công cộng và ngày 29/8/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng xử phạt 15 tháng tù giam về hành vi Trộm cắp tài sản. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và được xóa án tích.

Về trách nhiệm dân sự: Miễn xét.

Về xử lý vật chứng: 01 (một) cây dao yếm dài 40cm, bề bản rộng nhất 6,5cm, lưỡi dao dài 30cm, mũi nhọn, một bề bén. Cán bằng gỗ (loại gỗ tròn) dài 10cm. Trên lưỡi dao có chữ “C-YÊN” là hung khí gây án nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm a, c khoản 1 Điều 134, Điều 38 Bộ luật hình sự; Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn U phạm tội "Cố ý gây thương tích".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đinh Văn U 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2021.

Về trách nhiệm dân sự: Miễn xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây dao yếm dài 40cm, bề bản rộng nhất 6,5cm, lưỡi dao dài 30cm, mũi nhọn, một bề bén. Cán bằng gỗ (loại gỗ tròn) dài 10cm. Trên lưỡi dao có chữ “C-YÊN”.

Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Đinh Văn U nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ