vanban.org

Bản án 24/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Cẩm V.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Cẩm V được ly hôn với ông Nguyễn Quốc B. [2] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung là cháu Nguyễn Bảo Tr, sinh ngày 22/4/2013 và cháu Nguyễn Bảo Ph, sinh ngày 03/8/2015 cho bà Lê Thị Cẩm V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu Tr, cháu Ph đủ 18 t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Cẩm V.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ RIỀNG
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 26-7-2021
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Tấn Trường

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tạ Văn Khách

Ông Ninh Quốc Hòa

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Duyên -Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Giáp - Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2021/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2021 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 14/2021/QĐXX-ST ngày 17 tháng 3 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2021/QĐST-HNGĐ ngày 05/4/2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Cẩm V, sinh năm 1988 (Có đơn xin vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc B, sinh năm 1985 (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Lê Thị Cẩm V trình bày:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Quốc B, sinh năm 1985 tự nguyện tìm hiểu, chung sống và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Đăk Lăk vào ngày 05/12/2012.

Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do ông B không quan tâm đến gia đình, thường xuyên vắng nhà, có quan hệ ngoài luồng với người phụ nữ khác dân đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm sống, cách nuôi dạy con... Hiện vợ chồng bà đã sống ly thân. Khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, hai bên gia đình đều biết, có khuyên giải vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả.

Bà V xác định không còn tình cảm, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, không đạt được mục đích chung sống nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Quốc B.

[2] Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Bảo Tr, sinh ngày 22/4/2013 và cháu Nguyễn Bảo Ph, sinh ngày 03/8/2015. Khi ly hôn, bà V đề nghị Tòa án giải quyết giao con chung là cháu Tr, cháu Ph cho bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục do từ thời điểm vợ chồng sống ly thân đến nay, cháu Tr, cháu Ph sống cùng bà và do bà chăm sóc chính. Về cấp dưỡng nuôi con, bà và ông B tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Quốc B: Tòa án đã tống đạt trực tiếp Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập nhưng ông B vắng mặt tại địa phương. Căn cứ Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án đã niêm yết Thông báo thụ lý vụ án số 01/2021/TLST-HNGĐ (ngày 21-01-2021), Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ (08-02-2021), Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ (17-3-2021) nhưng ông Nguyễn Quốc B vẫn vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến.

Tại phiên tòa hôm nay, ông Bảo vắng mặt lần thứ hai không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bình Phước phát biểu: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Kể từ thời điểm thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, người tham gia tố tụng thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ nhận thấy bà Lê Thị Cẩm V khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông B. Theo lời trình bày của bà V và xác minh tại địa phương thì có căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa bà V, ông B có mâu thuẫn trầm trọng. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà V. Giao con chung là cháu Nguyễn Bảo Tr và cháu Nguyễn Bảo Ph cho bà V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:

Bà Lê Thị Cẩm V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, về con chung với bị đơn ông Nguyễn Quốc B có hộ khẩu thường trú và cư trú tại thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước. Tòa án nhân dân huyện P xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Căn cứ các Điều 28; 35; 39 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51; 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.

Ông Nguyễn Quốc B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án:

[a] Xét yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Cẩm V, Hội đồng xét xử nhận định: Quan hệ hôn nhân giữa bà V, ông B là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Đăk Lăk vào ngày 05/12/2012.

Theo bà V, hôn nhân giữa bà và ông B phát sinh mâu thuẫn từ năm 2015 và hiện cả hai đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã phân tích, giải thích cho bà V các hệ lụy, hậu quả xảy ra khi ly hôn để bà V đoàn tụ tiếp tục chung sống với ông B. Tuy nhiên, bà V xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục duy trì đời sống hôn nhân với ông B, bà V cương quyết đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Điều này cho thấy hôn nhân giữa bà V và ông B đã trở lên trầm trọng, mục đích chung sống hạnh phúc không đạt được do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà V, bà V được ly hôn với ông B.

[b] Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Bà V và ông B có con chung là cháu Nguyễn Bảo Tr, sinh ngày 22/4/2013 và cháu Nguyễn Bảo Ph, sinh ngày 03/8/2015. Xét yêu cầu của bà V về việc nuôi con sau khi ly hôn: Ông B không có ý kiến, yêu cầu đối với các vấn đề bà V khởi kiện. Từ khi vợ chồng sống ly thân, cháu Tr và cháu Ph do bà V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo môi trường ổn định giúp cháu Tr, cháu Ph phát triển tốt về tâm lý, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Tr, cháu Ph cho bà V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp, đảm bảo quyền lợi mọi mặt của cháu Tr, cháu Ph.

Bà V, ông B tự thỏa thuận về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[c] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Thị Cẩm V phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28; 35; 39 và Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ các Điều 51; 53; 56; 81; 82; 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Cẩm V.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Cẩm V được ly hôn với ông Nguyễn Quốc B.

[2] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung là cháu Nguyễn Bảo Tr, sinh ngày 22/4/2013 và cháu Nguyễn Bảo Ph, sinh ngày 03/8/2015 cho bà Lê Thị Cẩm V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu Tr, cháu Ph đủ 18 tuổi.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom hoặc cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Cẩm V phải chịu 300.000 đồng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0012047 ngày 04/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Bình Phước.

[5] Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ