vanban.org

Bản án 24/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc L:

Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Ngọc L được ly hôn với ông Võ Ngọc T (Giấy chứng nhận kết hôn số XX ngày XX/XX/XXXX của Ủy ban nhân dân xã C, huyện D, tỉnh E hết hiệu lực). Về nuôi con chung: giao trẻ Võ Thành P, sinh ngày XX/XX/XXXX cho bà Nguyễn Thị Ngọc L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo d… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc L:
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦN GIỜ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 07/12/2021
V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phù Quốc Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Văn Lộc.

2. Bà Lê Thị Nga.

Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 12 năm 2021, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 60/2021/HNST ngày 23 tháng 03 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 98/2021/QĐHPTST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 2000.

Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã C, huyện D, tỉnh E. (có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm).

- Bị đơn: Ông Võ Ngọc T, sinh năm 1996.

Địa chỉ: ấp F, xã G, huyện H, Thành phố I. (vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn đề ngày 16/03/2021 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L trình bày:

Bà và ông T tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện D, tỉnh E theo Giấy chứng nhận kết hôn số XX ngày XX/XX/XXXX. Sau khi kết hôn được 01 năm thì bà và ông T phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông T nghiện ma túy. Bà đã khuyên can nhiều lần nhưng ông T không cai nghiên được. Từ đó dẫn đến tình cảm vợ chồng đổ vỡ. Nay hạnh phúc hôn nhân không đạt được, bà xin ly hôn với ông T.

Về con chung: có 01 con chung là trẻ Võ Thành P, sinh ngày XX/XX/XXXX. Bà yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, ông Võ Ngọc T trình bày: ông thống nhất với lời khai của bà L về việc kết hôn cũng như mâu thuẫn giữa hai vợ chồng. Do ông vẫn còn thương vợ, con nên ông không đồng ý ly hôn.

Về con chung: có 01 con chung là trẻ Võ Thành P, sinh ngày XX/XX/XXXX. Do không đồng ý ly hôn nên ông không đồng ý giao con cho bà L giữ nuôi.

Về tài sản chung: không có.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

1. Bà L có đơn xin vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

2. Ông T vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm.

3. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự; bà L đã chấp hành đúng quy định pháp luật; ông T không tham gia tố tụng trong vụ án.

- Về giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà L vì có cơ sở; do ông T không có lời khai nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà L khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với ông T. Ông T có nơi cư trú tại ấp F, xã G, huyện H, Thành phố I. Do đó, đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về sự vắng mặt của đương sự:

Xét Tòa án đã đã triệu tập hợp lệ lần thứ 02 đối với ông T để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm nhưng ông T vẫn cố tình vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét bà L có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà L theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của các đương sự:

- Về quan hệ hôn nhân:

Căn cứ vào lời khai của các đương sự và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã đủ cơ sở kết luận: bà L và ông T có tự nguyện đăng ký kết hôn và có mối quan hệ hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, sau khi kết hôn được 01 năm thì giữa hai bên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông T nghiện ma túy và ông T đã bị áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy. Từ đó ông T không chăm lo cho gia đình dẫn đến tình cảm vợ chồng đổ vỡ.

Xét thấy bà L và ông T đã không còn chung sống, không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xác định tình trạng mâu thuẫn giữa bà L và ông T đã trầm trọng, đời sống chung đã thực sự tan vỡ, không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó yêu cầu ly hôn của bà L là phù hợp và có căn cứ nên được chấp nhận.

- Về con chung: có 01 con chung là trẻ Võ Thành P, sinh ngày XX/XX/XXXX. Xét trẻ P dưới 36 tháng tuổi và hiện trẻ đang sống cùng bà L. Vì vậy để ổn định cuộc sống cho trẻ, cần giao trẻ P cho bà L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định pháp luật.

Ông T được quyền thăm nom con và phải có nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung.

Vì lợi ích của con trẻ, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có quyền quyết định thay đổi người trực tiếp giữ nuôi hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Về cấp dưỡng nuôi con: ghi nhận sự tự nguyện của bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà L phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào các điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

- Căn cứ vào các điều 2, 6, 7, 9 và 30 Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc L:

1. Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Ngọc L được ly hôn với ông Võ Ngọc T (Giấy chứng nhận kết hôn số XX ngày XX/XX/XXXX của Ủy ban nhân dân xã C, huyện D, tỉnh E hết hiệu lực).

2. Về nuôi con chung: giao trẻ Võ Thành P, sinh ngày XX/XX/XXXX cho bà Nguyễn Thị Ngọc L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Ông Võ Ngọc T được quyền thăm nom con và phải có nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung.

Vì lợi ích của con trẻ, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có quyền quyết định thay đổi người trực tiếp giữ nuôi hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Ngọc L không yêu cầu ông Võ Ngọc T cấp dưỡng nuôi con chung.

4. Về tài sản chung: không giải quyết.

5. Về án phí sơ thẩm: bà Nguyễn Thị Ngọc L phải nộp là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AG/2011/XXXXX ngày XX tháng XX năm XXXX của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ. Bà Nguyễn Thị Ngọc L đã nộp đủ án phí.

6. Quyền kháng cáo:

- Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

7. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ