- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Ông Nguyễn Ngân Đ khởi kiện bà Dương Thị Kiều H về việc xin thay đổi quyền nuôi con"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngân Đ về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2021/HNGĐ-ST Ngày: 16-3-2021 "V/v Tranh chấp Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Trường.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Võ Thị Mỹ Ngọc.
Ông Nguyễn Văn Cường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Kim Dung, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Yến Nhi, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 323/2020/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2020 về tranh chấp Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngân Đ, sinh năm 1986; địa chỉ: Số 26, khóm TV, phường TA, thành phố VL, tỉnh Vĩnh Long (Có mặt).
- Bị đơn: Bà Dương Thị Kiều H, sinh năm 1986; địa chỉ: Số 24B, khóm VP, phường TN, thành phố VL, tỉnh Vĩnh Long (Có mặt).
- Người làm chứng:
1) Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1950; đia chỉ: Số 26, khóm VP, phường TN, thành phố VL, tỉnh Vĩnh Long (Vắng mặt).
2) Bà Nguyễn Thị Ê (L), sinh năm 1942; địa chỉ: Số 23, khóm VP, phường TN, thành phố VL, tỉnh Vĩnh Long (Vắng mặt).
3) Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1958; địa chỉ: Số 37, Tổ 3, khóm VP, phường TN, thành phố VL, tỉnh Vĩnh Long (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 29/6/2020; đơn khởi kiện ngày 13/8/2020 và trong quá trình xét xử nguyên đơn ông Nguyễn Ngân Đg trình bày như sau:
Ông Nguyễn Ngân Đ và bà Dương Thị Kiều H có 01 con chung tên Nguyễn Dương Bảo A, sinh ngày 21/6/2016. Theo bản án số 50/2018/HNST ngày 18/5/2018 của Tòa án nhân dân thành phố VL và bản án số 20/2018/HNGĐ-PT ngày 07/8/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh VL giao cháu A cho bà H nuôi dưỡng, ông Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu A tròn 18 tuổi. Tuy nhiên khi ông Đ đến thăm con thì bị bà H và người nhà ngăn cản, giấu cháu A không cho ông thăm con và có lời nói hành động đe dọa đánh ông nên ông không thể thăm con được. Ngoài ra, bà H hiện đang nuôi con riêng và thu nhập hàng tháng thấp nên không đủ khả năng nuôi dưỡng cháu A vì vậy ông Đ yêu cầu thay đổi quyền nuôi dưỡng cháu A, ông Đ không yêu cầu bà H phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Tại phiên tòa, ông Đ vẫn giữ nguyên các ý kiến đã trình bày và không bổ sung gì khác.
- Bị đơn bà Dương Thị Kiều H trình bày:
Theo bản án số 50/2018/HNST ngày 18/5/2018 của Tòa án nhân dân thành phố VL và bản án số 20/2018/HNGĐ-PT ngày 07/8/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh VL giao cháu Nguyễn Dương Bảo A, sinh ngày 21/6/2016 cho bà nuôi dưỡng, ông Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu A tròn 18 tuổi. Trong quá trình nuôi dưỡng bà chăm sóc cháu rất tốt, cho cháu A học tập, vui chơi và tạo điều kiện để ông Đ đến thăm con theo quy định, tuy nhiên khi đến thăm con ông Đ đã có những hành vi như cầm cây gậy cao su của công an theo, dùng chân đạp vào hàng rào làm hư hỏng hàng rào nhà của mẹ bà, không thông báo thời gian đến thăm con. Nay bà H không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông Đ về việc xin thay đổi quyền nuôi con, bà H yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Dương Bảo A, sinh ngày 21/6/2016, yêu cầu ông Đ phải cấp dưỡng nuôi con theo quyết định trước đây của Tòa án mỗi tháng là 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu A đủ tuổi trưởng thành.
Tại phiên tòa, bà H vẫn giữ nguyên các ý kiến đã trình bày và không bổ sung gì khác.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố VL phát biểu ý kiến:
Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử đều tuân theo đúng quy định pháp luật tố tụng, nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định pháp luật của người tham gia tố tụng, thời hạn đưa vụ án ra xét xử đúng quy định.
Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị:
Áp dụng các Điều 28, 35, 39 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngân Đ. Tiếp tục giao con chung tên Nguyễn Dương Bảo A, sinh ngày 21/6/2016 cho bà Dương Thị Kiều H nuôi dưỡng, ông Đ phải tiếp tục cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu A đủ tuổi trưởng thành.
Về án phí: Buộc ông Đ phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn cư trú tại thành phố VL được thụ lý phù hợp về thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, lời trình bày của bị đơn và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định đây là tranh chấp Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được quy định tại khoản 3 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Ngân Đ về việc xin thay đổi quyền nuôi dưỡng cháu Nguyễn Dương Bảo A, sinh ngày 21/6/2016.
Xét điều kiện nuôi con: Xét thấy, bà H có công việc làm và thu nhập ổn định mặc dù thu nhập không cao như thu nhập của ông Đ nhưng vẫn đảm bảo việc sinh sống, nuôi con hàng ngày. Ông Đ xác định từ khi ông bà ly hôn cho đến nay, bà H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu A, đảm bảo cho cháu được học tập, vui chơi và sức khỏe của cháu phát triển đúng theo độ tuổi, không bị suy dinh dưỡng. Mặc khác ông Đ trình bày nếu giao con cho ông Đ nuôi dưỡng thì ông sẽ nhờ cha ruột hoặc thuê người giúp việc chăm sóc cháu A khi ông đi làm và đi trực, còn bà H hiện đang công tác tại Ủy ban nhân phường TN, thành phố VL có thời gian làm việc theo giờ hành chính, không phải trực tại đơn vị như ông Đ nên việc đưa đón cũng như chăm sóc cháu A sẽ đảm bảo tốt hơn ông Đ. Ngoài ra, ông Đ cho rằng khi đến thăm nom con bị bà H và người nhà của bà H ngăn cản tuy nhiên theo xác minh những người dân sống xung quanh nhà bà H, Công an phường TN, thành phố VL cũng như những người làm chứng do ông Đ cung cấp như ông Nguyễn Văn H1, bà Nguyễn Thị Ê (L), ông Lê Văn K, ông Phan Thanh T, ông Nguyễn Văn Th, ông Nguyễn Minh P, ông Nguyễn Văn H đều xác định không có việc bà H hoặc gia đình của bà H ngăn cản việc thăm nom con của ông Đ và xác định trong quá trình nuôi con, bà H chăm sóc cháu A rất chu đáo, cháu phát triển khỏe mạnh, lanh lợi và rất ngoan. Từ những phân tích trên, do đó để đảm bảo về chỗ ở ổn định, học tập, vui chơi, để đảm bảo sự phát triển về tâm sinh lý của cháu A vì vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu xin thay đổi quyền nuôi con của ông Đ, tiếp tục giao cháu A cho bà H nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Xét về nghĩa vụ cấp dưỡng: Theo bản án số 50/2018/HNST ngày 18/5/2018 của Tòa án nhân dân thành phố VL và bản án số 20/2018/HNGĐ-PT ngày 07/8/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh VL buộc ông Đ phải cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Dương Bảo A, sinh ngày 21/6/2016 mỗi tháng là 1.000.000 đồng cho đến khi cháu An đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các bên không có ý kiến, không có yêu cầu hoặc tự nguyện thay đổi về số tiền cấp dưỡng. Do đó, buộc ông Đ phải tiếp tục cấp dưỡng nuôi cháu A mỗi tháng là 1.000.000 đồng cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi.
Xét quan điểm trình bày của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố VL là có cơ sở chấp nhận.
Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc ông Nguyễn Ngân Đ phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ông Đ được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí nộp ngày 08/10/2020 theo biên lai thu số N0 0005746 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố VL thành tiền án phí. Ông Đ đã nộp đủ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 3 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngân Đ về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Tiếp tục giao cháu Nguyễn Dương Bảo A, sinh ngày 21/6/2016 cho bà Dương Thị Kiều H nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Đ phải tiếp tục cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng/tháng (Một triệu đồng) cho đến khi cháu A đủ tuổi trưởng thành.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
2. Về án phí: Buộc ông Nguyễn Ngân Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ông Đ được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí nộp ngày 08/10/2020 theo biên lai thu số N0 0005746 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố VL thành tiền án phí. Ông Đông đã nộp đủ.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án Tỉnh; - Viện Kiểm Sát TPVL; - Thi hành án TPVL; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trương Minh Trường |