vanban.org

Bản án 24/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

sự; Điều 27, 37 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 18 Nghị định 19/2019/NĐ - CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ quy định về “Họ, hụi, biêu , phường”; Điều 26 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, xử:

Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị H, buộc vợ chồng bà Lưu Thị M và ông La Văn B phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Lê Thị H và ông Nguyễn Văn D số tiền nợ Phường(Họ) là: 300.000.000đ(Ba trăm triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? sự; Điều 27, 37 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 18 Nghị định 19/2019/NĐ - CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ quy định về “Họ, hụi, biêu , phường”; Điều 26 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, xử:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HIỆP HÒA
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2021/DS-ST
Ngày: 05/8/2021.
V/v: Tranh chấp tiền phường

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hương Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Đức Lâm

Ông Bùi Thế Hanh

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc - Thư ký Toà án nhân

dân huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên tòa: Bà

Nguyễn Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên

Trong ngày 05 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hiệp

Hòa, tỉnh Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 209/2020/TLST-DS, ngày 16 tháng 11 năm 2020 về việc “tranh chấp tiền phường” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 29a/2021/QĐXXST-DS ngày 16/4/2021 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1968(Có mặt)

Địa chỉ: thôn Vân An, xã Lương Phong, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang;

Người đại diện theo ủy quyền của bà H là ông Nguyễn Văn D – sinh năm

1966 (Có mặt)

Địa chỉ: thôn Vân An, xã Lương Phong, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang;

Đồng bị đơn:

1. Bà Lưu Thị M – sinh năm 1969 (Vắng mặt)

2. Ông La Văn B – sinh năm 1966 (Vắng mặt)

Cùng HKTT: thôn Sơn Quả 3, xã Lương Phong, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc

Giang;

Hiện cùng tạm trú: ấp 5, xã Thường Tân, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

Bà M, ông B, bà H và ông D đều có đơn lựa chọn Tòa án nhân dân huyện

Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang thụ lý và giải quyết vụ án của các ông bà.

Bà M và ông B cùng có đơn đề nghị Tòa án tiến hành hòa giải và xét xử

vắng mặt.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Văn D – sinh năm 1966 (Có mặt)

Địa chỉ: thôn Vân An, xã Lương Phong, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Phía nguyên đơn là Bà Lê Thị H trình bày: nhà bà và nhà ông La Văn

B và bà Lưu Thị M có quan hệ hàng xóm và hai nhà ngay sát cạnh nhau nên hai bên có quan hệ hàng xóm với nhau nên có chơi phường(họ) với nhau. Bà Lưu Thị M là chủ phường và bà là người chơi phường. Trước lần chơi phường này thì bà và bà M cũng đã có lần chơi phường trước đó nhưng hai bên đã thực hiện đầy đủ với nhau và sòng phẳng không vướng mắc gì.

Ngày 25/02/2019(ÂL) bà bắt đầu chơi bát phường mới với bà M với mức

đóng mỗi tháng là 30 triệu đồng/tháng trong thời gian chơi phường là 15 tháng, tại bát phường này chỉ bà và bà M chơi với nhau không có ai khác. Theo đó, từ ngày 25/02/2019(ÂL) bát phường sẽ bắt đầu đến ngày 30/3/2020(ÂL) thì kết thúc.

Tuy nhiên, khi bà đóng cho bà M được 14 tháng với số tiền 420triệu đồng

thì sau khoảng vài ngày bà M có nói với vợ chồng bà là bà M bị vỡ nợ không có khả năng thanh toán cho bà. Sau đó, bà M cùng chồng đã đi khỏi nơi cư trú bà không thể gặp để đòi tiền được. Vì thế, bà đã làm đơn kiện bà M tại Công an huyện Hiệp Hòa, Viện kiểm sát huyện Hiệp Hòa, Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa thì bà M đã trở về nhà và ngày 30/4/2020(ÂL) bà M có trả được cho bà 01 sập gỗ và hai bên cũng xác định giá trị của chiếc sập là 100 triệu đồng, khi vợ chồng bà sang lấy chiếc sập về thì ông B cũng có mặt và nhất trí với việc gán nợ cho bà chiếc sập của gia đình với giá là 100 triệu đồng. Đến ngày 05/5/2020(ÂL) thì bà M đã trả tiếp cho bà được 20 triệu đồng. Tổng cộng bà M đã trả cho bà được 120 triệu đồng và kể từ đó đến nay bà M chưa trả cho bà được một đồng nào mặc dù tôi đã nhiều lần đòi tiền bà M. Sau đó, vợ chồng bà M đã cùng nhau bỏ đi khỏi địa phương mà không có trách nhiệm lo trả nợ cho vợ chồng bà. Ông La Văn B là chồng của bà M việc vợ chồng bà có chơi phường với bà M thì ông B đều biết và khi bà M không có khả năng thanh toán cho bà thì ông B cũng biết nên đã nhất trí gán trả nợ cho vợ chồng bà một chiếc sập của gia đình ông bà đang sử dụng. Hiện nay, ông B và bà M cùng nhau đi làm ăn kinh tế ở Bình Dương nên bà yêu cầu Tòa án buộc bà M và ông B cùng có trách nhiệm trả nợ cho vợ chồng bà số tiền phường còn thiếu là: 300 triệu đồng bà xác nhận việc bà chơi phường, đóng phường và đòi tiền phường đối với bà M thì ông B đều biết vì hai ông bà vẫn sinh hoạt và sống cùng nhà với nhau.

Phía bị đơn là bà Lưu Thị M trình bày: bà xác nhận bà là chủ phường ở xã

Lương Phong được khoảng vài năm. Ngày 25/02/2019(ÂL) bà và vợ chồng bà Lê Thị H, ông Nguyễn Văn D là hàng xóm sát nhà nhau có chơi 01 bát phường với thời gian là 15 tháng và mỗi tháng bà H đóng cho bà 30 triệu đồng. Hàng tháng vợ chồng ông D đều đóng phường cho bà đầy đủ khi vợ chồng ông D đóng cho bà được 14 tháng với số tiền là 420 triệu đồng thì bà có nói với bà H việc bà bị vỡ nợ và không có khả năng trả nợ cho bà H được nữa. Vì không có khả năng trả nợ thì vợ chồng bà đã đi khỏi địa phương nhưng do vợ chồng bà H đòi nợ và gửi đơn đi khắp nơi thì vợ chồng bà đã về nhà và gặp vợ chồng bà H, ông D để thỏa thuận trả nợ. Hai bên cùng thống nhất vợ chồng bà trả nợ cho vợ chồng anh D 01 sập gỗ và giá hai bên cùng thỏa thuận là 100 triệu đồng và số tiền 100 triệu đồng được trừ vào số tiền phường bà chưa trả cho vợ chồng bà H thì bà còn nợ lại là 320 triệu đồng. Sau đó, bà có trả cho vợ chồng bà H một lần tiền nữa là 20 triệu đồng như vợ chồng bà H đã trình bày là đúng. Vì vậy, bà xác định hiện nay bà còn nợ lại vợ chồng bà H 300 triệu đồng là đúng. Tại biên bản ghi lời khai ngày 10/12/2020 thì bà M có đề nghị cho bà M được trả dần mỗi tháng từ 5.000.000đ đến 10.000.000đ vì hoàn cảnh vợ chồng bà khó khăn nhưng phía ông D không nhất trí đề nghị bà phải trả hàng tháng là 30 triệu đồng thì gia đình bà không có khả năng. Tuy nhiên, bà cũng đề nghị Tòa án để bà quay lại tỉnh Bình Dương để bàn bạc với chồng bà.

Phía bị đơn là ông La Văn B trình bày: Gia đình ông và gia đình ông D, bà

H là hàng xóm của nhau, ông cũng xác nhận đến nay ông và bà M vẫn có quan hệ vợ chồng và chung sống cùng nhau. Việc vợ ông là chủ phường và có chơi phường với vợ chồng bà H như thế nào ông không biết và đến nay bà M còn nợ vợ chồng vợ chồng bà H bao nhiêu tiền ông cũng không biết. Tuy nhiên, ông có biết sự việc là vợ chồng ông D, bà H có sang nhà ông lấy chiếc sập gụ của gia đình để trừ đi số nợ mà bà M chưa trả cho vợ chồng ông D. Chiếc sập gụ đã được gia đình ông và gia đình ông D đồng ý với mức giá là 100 triệu đồng ông nhất trí với việc gán nợ này và không yêu cầu Tòa án xem xét công sức gì của ông trong chiếc sập gụ đã được gán nợ cho vợ chồng bà H. Nay vợ chồng bà H làm đơn khởi kiện yêu cầu ông và bà M phải có trách nhiệm trả vợ chồng bà H số tiền 300 triệu đồng ông không đồng ý, ông không liên quan đến việc làm ăn của bà M, đề nghị Tòa án buộc bà M phải có trách nhiệm trả cho vợ chồng bà H, ông không nhất trí trả nợ cùng bà M.

Phía người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn D trình

bày: ông và bà LêThị H là vợ chồng, bà H và ông cùng nhất trí chơi phường với bà M với thời gian là 15 tháng và hàng tháng vợ chồng ông phải đóng phường cho bà M là 30 triệu đồng.

Tại phiên tòa, KSV phát biểu ý kiến và xác định về việc tuân theo pháp luật

tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, HĐXX kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, đối với nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiêp Hoà tham gia phiên toà nhận xét quá trình tiến hành tố tụng, xét xử vụ án, Toà án và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự có ý thức chấp hành pháp luật. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị H và ông Nguyễn Văn D buộc vợ chồng bà Lưu Thị M và ông La Văn B phải có trách nhiệm liên đới trả tiền họ (phường) cho bà Lê Thị H và ông Nguyễn Văn D số tiền là: 300.000.000đ(Ba trăm triệu đồng), đề nghị tuyên lãi chậm thi hành án theo quy định.

Về án phí: bà Lưu Thị M và ông La Văn B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm

theo quy định của pháp luật. Bà Lê Thị H và ông Nguyễn Văn D không phải chịu án phí DSST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và thẩm tra chứng cứ tại

phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

.Về tố tụng: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H HĐXX xác định

đây là quan hệ tranh chấp tiền phường được quy định tại Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa. Tại phiên tòa vắng mặt bà Lưu Thị M và ông La Văn B nhưng ông B và bà M đều có đơn xin hòa giải và xét xử vắng mặt. Căn cứ vào quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự HĐXX vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

. Xét yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H và việc xác nhận của bà Lưu

Thị M có đủ cơ sở để kết luận, bà Lưu Thị M hiện tại có nợ bà Lê Thị H số tiền phường là 300 triệu đồng, sau khi đã trừ đi hai lần trả nợ là 120 triệu đồng là đúng việc này đã được hai bên cùng xác nhận. Tuy nhiên, trong đơn khởi kiện cũng như trong các biên bản làm việc và tại phiên tòa bà H và ông D đều yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng bà M và ông la Văn B phải có trách nhiệm liên đới trả nợ cho ông bà vì xác định việc bà M là chủ phường là công việc làm ăn của gia đình bà M và ông B. HĐXX nhận thấy, phía bà M tại buổi làm việc ngày 20/12/2020, khi ông D đồng ý cho bà M được trả dần với số tiền là 30 triệu đồng/tháng chứ không đồng ý với ý kiến bà M xin trả từ 05 đến 10 triệu đồng/tháng thì bà M đề nghị để bà về trao đổi lại với chồng bà là ông B. Hơn nữa việc vợ chồng bà H và ông D sang nhà vợ chồng bà M để trừ nợ chiếc sập gụ của gia đình bà M thì ông B cũng biết và nhất trí, từ trước đến nay ông B và bà M vẫn chung sống vợ chồng bình thường nên cần phải xác định số tiền 300 triệu đồng bà M còn nợ vợ chồng bà H là nợ chung của vợ chồng để buộc bà M và ông B phải có trách nhiệm liên đới trả nợ cho vợ chồng bà H và ông D mới đảm bảo được quyền lợi của vợ chồng bà H. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu này của bà H và ông D là có căn cứ.

Về án phí: Bà Lưu Thị M và ông La Văn B phải có trách nhiệm liên đới

chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bà Lê Thị H và ông Nguyễn Văn D không phải chịu án phí DSST. Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 26, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân

sự; Điều 27, 37 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 18 Nghị định 19/2019/NĐ - CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ quy định về “Họ, hụi, biêu , phường”; Điều 26 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, xử:

Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị H, buộc vợ chồng bà Lưu Thị M và ông

La Văn B phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Lê Thị H và ông Nguyễn Văn D số tiền nợ Phường(Họ) là: 300.000.000đ(Ba trăm triệu đồng).

Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến

khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất là 10%/năm.

Về án phí: Bà Lưu Thị M và ông La Văn B phải có trách nhiệm liên đới

chịu 15.000.000đ án phí DSST. Bà Lê Thị H và ông Nguyễn Văn D không phải chịu án phí DSST, hoàn trả cho bà lê Thị H số tiền 7.500.000đ tiền tạm ứng án phí DSST tại biên lai thu số: AA/2017/0000450 ngày 16/11/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa (Do ông Nguyễn Văn D nộp).

Báo cho đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể

từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày

được tống đạt bản án. Nơi nhận:

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND huyện Hiệp Hòa;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Chi cục THA DS huyện HiệpHòa;

- Đương sự;

- Lưu.

HOÀNG THỊ HƯƠNG LAN HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA Lê Thanh Miện Bùi Thế Hanh

Hoàng Thị Hương Lan Nơi nhận:

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND huyện Hiệp Hòa;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Chi cục THA DS huyện HiệpHòa;

- Đương sự;

- Lưu.

HOÀNG THỊ HƯƠNG LAN HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA Lê Thanh Miện Bùi Thế Hanh

Hoàng Thị Hương Lan

Cỡ chữ