vanban.org

Bản án 24/2021/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thanh Tr – Chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh Đầm D, buộc ông Huỳnh Công Ch và bà Trần Thị M trả cho chị Nguyễn Thanh Tr – Chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh Đầm D số tiền 240.

Về án phí dân sự: Chị Nguyễn Thanh Tr - Chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh Đầm D không phải chịu, ngày 13 tháng 01 năm 2021 đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm số tiền 5.904.000đ (năm triệu chín trăm lẽ bốn nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0011719 của Chi cục Thi hành án… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "tranh chấp hợp đồng mua bán"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thanh Tr – Chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh Đầm D, buộc ông Huỳnh Công Ch và bà Trần Thị M trả cho chị Nguyễn Thanh Tr – Chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh Đầm D số tiền 240.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2021/DS-ST
Ngày 16 - 3- 2021
V/v tranh hợp đồng mua bán

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Mai

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Châu Trung Trực

Ông Nguyễn Văn Hiển

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Chí Đệ là thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi.

Ngày 16 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 38/2021/TLST-DS ngày 18 tháng 01 năm 2021 về việc “tranh chấp hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2021/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 02 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thanh Tr – Chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh; cư trú tại: Khóm 4, thị trấn Đầm D, huyện Đầm D, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Trần Thị L, sinh năm 1984; cư trú tại: Số 20, ấp Bà Đ, xã Lý Văn L, thành phố Cà M, tỉnh Cà Mau (văn bản ủy quyền ngày 14/9/2020). (vắng mặt)

- Bị đơn:

1. Ông Huỳnh Công Ch, sinh năm 1962; cư trú tại: Ấp Kinh Ng, xã Quách Ph, huyện Đầm D, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)

2. Bà Trần Thị M, sinh năm 1964; cư trú tại: Ấp Kinh Ng, xã Quách Ph, huyện Đầm D, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thanh Tr, cũng như trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của chị Tr – chị Trần Thị L trình bày:

Ngày 17/5/2019, chị Nguyễn Thanh Tr - Chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh Đầm D ký hợp đồng mua bán thuốc, thức ăn tôm cho ông Ch và bà M, thỏa thuận đến cuối vụ phải thanh toán dứt điểm công nợ.

Trong quá trình giao dịch, ông Ch và bà M không thực hiện trả tiền đúng thỏa thuận.

Ngày 07/3/2019 là ngày kết thúc giao dịch mua bán giữa hai bên, theo bản đối chiếu công nợ tháng 3/2020 ký ngày 01/4/2020 thì ông Ch và bà M còn nợ lại bà Tr số tiền 219.739.000 đồng. Bà Tr có nhiều lần liên hệ với ông Ch và bà M để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ nhưng ông, bà vẫn không trả tiền.

Chị Nguyễn Thanh Tr - Chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh Đầm D yêu cầu ông Ch và bà M trả số tiền mua bán thức ăn tôm và thuốc thủy sản vốn còn nợ là 219.739.000 đồng và tiền lãi trong thời gian 11 tháng 15 ngày với mức lãi suất 0.83%/tháng là 20.973.000 đồng.

Ông Huỳnh Công Ch và bà Trần Thị M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng ông Ch và bà M không có ý kiến đối với nội dung và yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thanh Tr.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Ngày 15/3/2021 chị Trần Thị L có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; ông Huỳnh Công Ch và bà Trần Thị M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.

Về nội dung: Theo hợp đồng mua bán ngày 17/5/2019 giữa chị Nguyễn Thanh Tr – Chủ Hộ kinh doanh Tân Quang Minh Đầm D với ông Huỳnh Công Ch và bà Trần Thị M và theo bảng đối chiếu công nợ tháng 3/2020 giữa Tân Quang Minh Đầm Dơi với ông Ch và bà M, Hội đồng xét xử xét thấy, ông Ch và bà M có ký kết hợp đồng mua thức ăn nuôi tôm công nghiệp với chị Tr – Chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Ch và bà M không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán, số dư nợ khi kết thúc hợp đồng vào ngày 01/4/2021 là 219.739.000 đồng, có chữ ký xác nhận dự nợ của ông Huỳnh Công Ch tại bảng đối chiếu công nợ tháng 3/2020. Ông Ch và bà M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để biết được yêu cầu khởi kiện của chị Tr, nhưng ông, bà không có ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ và không có thiện chí phối hợp với Tòa án để giải quyết vụ án. Như vậy, nội dung và yêu cầu khởi kiện của chị Tr thuộc trường hợp những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định, ông Ch và bà M còn nợ chị Tr - Chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh Đầm D số tiền 219.739.000 đồng.

Về yêu cầu trả lãi, xét thấy: Trong thời gian các bên thực hiện hợp đồng ông Ch và bà M đã không thanh toán tiền đúng thỏa thuận. Sau khi kết thúc hợp đồng ông Ch và bà M không có trả cho nguyên đơn số tiền nợ trên. Do đó ông Ch và bà M đã vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 440 của Bộ luật dân sự. Theo khoản 3 Điều 440 của Bộ luật dân sự quy định “Trường hợp bên mua không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật này.”. Như vậy, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải có nghĩa vụ trả lãi trên số tiền vốn 219.739.000 đồng tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất 0.83%/tháng, cụ thể: 219.739.000 đồng x 0.83%/tháng x 11 tháng 15 ngày (tính từ ngày 01/4/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm 16/3/2021) = 20.973.000 đồng là phù hợp, có căn cứ nên được chấp nhận.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thanh Tr - Chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh Đầm D, buộc ông Ch và bà M trả số tiền nợ 240.712.000 đồng. Trong đó, số tiền chậm trả là 219.739.000 đồng, số tiền lãi là 20.973.000 đồng.

Về án phí dân sự: Chị Tr không phải chịu, đã dự nộp tạm ứng án phí được hoàn lại. Ông Ch và bà M phải chịu 12.037.000 đồng (240.712.000đ x 5%).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 91; khoản 2 Điều 92; Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 430, Điều 433, Điều 434 và Điều 440 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thanh Tr – Chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh Đầm D, buộc ông Huỳnh Công Ch và bà Trần Thị M trả cho chị Nguyễn Thanh Tr – Chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh Đầm D số tiền 240.712.000 đồng (hai trăm bốn mươi triệu bảy trăm mười hai nghìn đồng).

2. Về án phí dân sự: Chị Nguyễn Thanh Tr - Chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh Đầm D không phải chịu, ngày 13 tháng 01 năm 2021 đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm số tiền 5.904.000đ (năm triệu chín trăm lẽ bốn nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0011719 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi, được nhận lại. Ông Huỳnh Công Ch và bà Trần Thị M phải chịu 12.037.000 đồng (mười hai triệu không trăm ba mươi bảy nghìn đồng). Ông Ch và bà M chưa nộp.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ