vanban.org

Bản án 24/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 15/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2020/HS-ST
Ngày: 15 - 6 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Minh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trương Quang Lương

Ông Trần Xuân Văn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 6 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2020/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2020/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Bùi Văn T, sinh ngày 26 tháng 11 năm 1988 tại tỉnh Quảng Bình. Nơi cư trú: Tổ dân phố DT, phường ĐNĐ, thành phố H, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Văn T1, sinh năm: 1962 và bà Đinh Thị H (Đã chết); Anh chị em ruột: có 4 người, T là con đầu trong gia đình; Chưa có vợ con. Tiền án: không; Tiền sự: 01 tiền sự: Ngày 22/11/2019 bị Công an thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; Nhân thân: Sinh ra và lớn lên được gia đình nuôi ăn học đến lớp 10/12 thì nghỉ học ở nhà. Ngày 21/3/2007 bị công an phường ĐNĐ ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường thời hạn 06 tháng về các hành vi gây rối trật tự công cộng và trộm cắp tài sản. Ngày 10/01/2012 bị Công an thành phố Đồng Hới xử phạt hành chính,

1

phạt tiền 1.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 02/01/2015 bị Công an thành phố Đồng Hới xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 20/01/2017 bị Công an thành phố Đồng Hới xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 22/11/2019 bị Công an thành phố Đồng Hới xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 01/3/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 16/5/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt của hai bản án buộc chấp hành hình phạt chung 15 tháng tù, thi hành án tại Trại giam Đồng Sơn đến ngày 26/3/2014 ra trại về địa phương cho đến ngày phạm tội. Đã thi hành xong các khoản án phí, tiền phạt. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/02/2020 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đồng Hới; Từ ngày 21/5/2020 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình theo Công văn gửi bị can, bị cáo số 1742/CAĐH ngày 22/5/2020 của Công an thành phố Đồng Hới. Có mặt theo lệnh trích xuất của Tòa án.

* Bị hại:

1. Anh Bùi Văn T2, sinh ngày: 25/8/1968; địa chỉ: Tổ dân phố DT, phường ĐNĐ, thành phố H, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt có lý do (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Nguyễn Thị L, sinh ngày: 12/01/1964; địa chỉ: Tổ dân phố DT, phường ĐNĐ, thành phố H, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt

* Người tham gia tố tụng khác:

- Người chứng kiến:

1. Ông Bùi Văn H, sinh ngày 20/12/1957; địa chỉ: Tổ dân phố DT, phường ĐNĐ, thành phố H, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15giờ 00 phút ngày 04/12/2019 Bùi Văn T có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản điều khiển xe đạp hiệu Asama của chị Nguyễn Thị L (mẹ kế của T) đi trên đường NVC thuộc TDP DT, phường ĐNĐ, thành phố H. Phát hiện nhà anh Bùi Văn T2 cửa cổng không khóa, không có người ở nhà. Thấy trên gác nhà kho có tài sản, T dùng 01 cái thang để sẵn ở sân nhà trèo lên gác nhà kho lấy trộm 02 máy cắt và 01 máy mài bỏ vào bao tải rồi đạp xe tẩu thoát thì bị Công an phường ĐNĐ phát hiện.

2

Tại kết luận định giá tài sản số 97 ngày 31/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đồng Hới kết luận: 01 máy mài hiệu Haomai màu xanh bạc trị giá: 200.000đ; 02 máy cắt hiệu Kolex màu đỏ bạc trị giá mỗi máy 100.000đ. Tổng giá trị tài sản 400.000đ.

Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT - Công an TP Đồng Hới đã thu giữ và trả lại cho anh Bùi Văn T2 02 máy cắt hiệu Kolex và 01 máy mài hiệu Haomai; Thu giữ và trả lại cho chị Nguyễn Thị L 01 xe đạp hiệu Asama.

Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKSĐH-KT ngày 22 tháng 4 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới truy tố bị cáo Bùi Văn T ra trước Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới đã phát biểu lời luận tội, chứng minh và phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị HĐXX, xét xử bị cáo Bùi Văn T theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng; cần áp dụng các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ cho bị cáo: Bị cáo có nhân thân rất xấu, đã nhiều lần bị kết án và xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản; Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. Đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Bùi Văn T từ 09 (Chín) đến 12 (Mười hai) tháng tù.

Án phí HSST bị cáo Bùi Văn T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Quá trình xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Bản cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đồng Hới, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân thành phố Đồng Hới, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, về trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại

3

về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Bùi Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, phù hợp về thời gian, địa điểm, số lượng tài sản và quá trình diễn biến phạm tội. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Ngày 04/12/2019 Bùi Văn T có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, đã đột nhập vào nhà anh Bùi Văn T2 là chú ruột của bị cáo ở phường ĐNĐ, thành phố H lấy trộm 02 máy cắt hiệu Kolex màu đỏ bạc trị giá mỗi máy 100.000 đồng và 01 máy mài hiệu Haomai màu xanh bạc trị giá 200.000 đồng. Tổng giá trị tài sản 400.000 đồng (Tại kết luận định giá tài sản số 97 ngày 31/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đồng Hới). Do trước đó vào ngày 22/11/2019 bị cáo đã bị Công an thành phố Đồng Hới xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản chưa được xóa tiền sự mà còn vi phạm. Nên hành vi của Bùi Văn T đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.

Đánh giá tính chất nguy hiểm, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố H, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo T là người trưởng thành, có sức khỏe nhưng không chịu tu dưỡng, làm ăn lương thiện để trở thành người có ích cho xã hội; bị cáo có nhân thân rất xấu: đã nhiều lần bị kết án và xử phạt vi phạm hành chính và hiện có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản. Nhưng với bản tính chây lười lao động, thích ăn chơi đua đòi, mặc dù đã trải qua môi trường giáo dục tại trại giam nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp hậu quả, thực hiện đến cùng hành vi trộm cắp tài sản của người thân là chú ruột của bị cáo với mục đích tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo Bùi Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Khi lượng hình cũng xem xét cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn T đã có thái độ thành khẩn khai

4

báo, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn nên được xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT - Công an TP Đồng Hới đã thu giữ và trả lại cho anh Bùi Văn T2: 02 máy cắt hiệu Kolex màu đỏ bạc, đã bị hư hỏng và 01 máy mài hiệu Haomai màu xanh bạc, đã qua sử dụng (theo biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 12/3/2020 của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đồng Hới); Trả lại cho chị Nguyễn Thị L: 01 xe đạp hiệu Asama, màu đen, đã qua sử dụng (theo biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 12/3/2020 của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đồng Hới). Anh Bùi Văn T1 và chị Nguyễn Thị L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm, HĐXX không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo, nên HĐXX không xem xét.

Đối với chị Nguyễn Thị L là người đã cho Bùi Văn T mượn xe đạp sử dụng nhưng không biết T dùng để đi trộm cắp tài sản nên không phạm tội. Tại phiên tòa cần nhắc nhở, nêu cao tinh thần trong công tác phòng chống tội phạm.

Án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản".

2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt:

2.1. Áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.

2.2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 28/02/2020.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Bùi Văn T 45 ngày theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử, để đảm bảo thi hành án.

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 21,

5

23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Bùi Văn T phải chịu nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/6/2020). Đối với bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án hạn trong 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ