- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thế Thanh Thiên Tài và Nguyễn Đình Phong phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thế Thanh Thiên T và Nguyễn Đình P đã phạm tội Trộm c p tài sản .
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2020/HS-ST Ngày: 21-02-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Xuân Đức.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Quang
Ông Nguyễn Kiên Hiển
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Anh – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Sương – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 132/2019/HS-ST ngày 31 tháng 12 năm 2019, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2020/HSST-QĐ ngày 10 tháng 02 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. NGUYỄN THẾ THANH THIÊN T, giới tính: Nam, sinh ngày 27-12-1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh; trú tại: 330/20 Phan Văn T, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị N (chết); tiền án: Ngày 10-5-2016, bị Tòa án nhân dân quận Gò V p xử phạt 02 năm tù về tội Tàng tr trái phép ch t ma túy . Ch p hành án xong ngày 04-9-2017; ngày 23-3-2018, bị Tòa án nhân dân Quận 12 xử phạt 02 năm t về tội Trộm c p tài sản . Ch p hành án xong ngày 11-9-2019; tiền sự: Không; bị b t phạm tội quả tang ngày 11-10-2019. (Có mặt).
2. NGUYỄN ĐÌNH P, giới tính: Nam, sinh ngày 28-04-1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh; trú tại: 341/22 Phạm Văn H, Phường C, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ văn hóa: 8 12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Hoàng B và bà Lê Thị Hồng H; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 19-11-2013, bị Tòa án nhân dân quận Gò V p xử phạt 02 năm t về tội Cướp giật tài sản . Ch p hành án xong ngày 30-01-2015; ngày 30-8-2016, bị Tòa án nhân dân Thành phố Thủ D u Một, t nh Bình Dương xử phạt 01 năm tù giam về tội Trộm c p tài sản. Ch p hành án xong ngày 13-4-2017; bị b t phạm tội quả tang ngày 11-10-2019. (Có mặt).
Bị hại: Nguyễn Tr n Hải H, sinh 1989
Địa ch : 117 81 Nguyễn H u C, Phường 22, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (V ng mặt).
Người có quyền lợi liên quan: Tr n Quốc P, sinh 1978
Địa ch : 64B Chu T, phường H, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. (V ng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:
Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 11-10-2019, Nguyễn Thế Thanh Thiên T điện thoại rủ Nguyễn Đình P đi trộm c p tài sản và yêu c u P mang theo 01 biển số xe g n máy khác để g n vào xe máy của T để tránh bị phát hiện, P đồng ý. P mang một biển số xe: 59D2-551.71 và 01 bộ đoản khóa đi bộ đến nhà T, P c ng Tài tháo biển số 59T2-242.32 g n trên xe máy hiệu Suzuki Satria màu đỏ - đen, rồi g n biển số xe: 59D2-551.71 vào, sau đó T chở P ngồi sau đi qua nhiều tuyến đường để tìm tài sản trộm c p. Đến khoảng 13 giờ 00 phút c ng ngày, đến đường Lê Văn S cả hai r trái vào h m 413 Lê Văn S , Phường 12, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Vào trong h m được khoảng 40m, T và P phát hiện có 01 chiếc xe máy hiệu Honda PCX, biển số 47U1-580.40 của anh Nguyễn Tr n Hải H đậu trước số nhà 413 11 Lê Văn S , Phường 12, Quận 3 không có người trông coi, P nói T l y trộm, T đồng ý. T và P cho điều khiển xe qua khỏi chiếc xe máy anh H khoảng 10 mét thì quay ra đ u h m 413 Lê Văn S , không th y ai nên cả hai quay vào d ng xe lại cách ch chiếc xe máy của anh H đậu khoảng 7 mét. T d ng xe lại, P xuống xe đi đến cạnh xe máy anh H d ng tay đẩy tay lái kiểm tra th y xe khóa cổ, P leo lên ngồi trên yên xe l y bộ đoản phá khóa (đã chuẩn bị s n) t trong túi qu n ra b khóa xe, còn T ngồi trên xe máy cảnh giới cho P l y trộm xe. P d ng đoản phá khóa nhưng phá không được do đoản bị gãy dính bên trong ổ khóa, nên không l y trộm được xe máy của anh H. Do không l y trộm được nên P bỏ xe g n máy hiệu Honda PCX, biển số 47U1-580.40 định trộm lại và đi bộ lên xe T đang chờ s n tẩu thoát. Hai đối tượng bỏ đi được một đoạn đến trước số nhà 480 Trường Sa, Phường H, quận N thì bị Tổ tu n tra - Công an Quận 3 b t gi và bàn giao cho Công an Phường 12, Quận 3 để làm rõ. Tại Công an Phường 12, Quận 3 P và T đã khai nhận nội dung sự việc như trên, Công an Phường 12, Quận 3 lập biên bản b t người phạm tội quả tang vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 11-10-2019 và tạm gi đồ vật, tài liệu.
Kết luận định giá tài sản số 133 KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 16-10-2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 xe g n máy hiệu Honda PCX, dung tích 124CC màu đen, số máy: JF56E0030381, SK: 560SEY414083, biển số 47U1-580.40, đăng ký l n đ u tháng 2-2016, đã qua sử dụng, vào thời điểm tháng 10-2019 có giá trị 23.333.000 đồng.
Kết luận giám định số 1895 KLGĐ-TT ngày 20-11-2019 và Kết luận giám định số 7760/KLGĐ-TT ngày 22-11-2019 của Phòng k thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Biển số xe g n máy số 59D2-551.71 là biển số thật; số khung MH8DLAZJJ172369, số máy CGA1-ID172400 không thay đổi.
Kết luận giám định số 7759 KLGĐ-TT ngày 22-11-2019 của Phòng k thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Biển số xe g n máy số 47U1-580.40 số máy: JF56E0030381, số khung: 560SEY414083 không thay đổi.
Kết luận giám định số 1851 KLGĐ-TT ngày 22-11-2019 của Phòng k thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Ổ khóa xe được tháo ra t xe máy Honda PCX, dung tích 124CC màu đen, số máy: JF56E0030381, số khung: 560SEY414083, biển số 47U1-580.40 là ổ khóa công t c điện và khóa cổ xe Honda, không còn sử dụng được, đang ở trạng thái đóng. Có d u vết cạy phá, trượt, xước, gãy kim loại ở miệng l tra chìa khóa công t c xe và có d u vết cong biến dạng, trượt, xước, kim loại lạ và 01 đoạn đ u đoản kim lọai bên trong ổ khóa công t c xe máy Honda gửi giám định. Các d u vết cong biến dạng, gãy, trượt, xước lạ này do công cụ cạy khóa là đoản gây ra.
Xác minh tại Đội Cảnh sát giao thông - Công an Quận 3, xe máy hiệu SUZUKI SATRIA, màu đỏ - đen; số máy: CGA1JD172400, số khung: 11AZJJ172369, là xe do chị Hoàng Kim T đứng tên sở h u, nhưng không phải biển số 59D2-551.71 mà là biển số 59T-240.30.
Xác minh biển số 59D2-551.71 tại Đội Cảnh sát giao thông Công an Quận 3 là của xe máy hiệu Honda Wave, số máy: JA39E0482836, số khung: RLHJA3904HY507678, chủ xe là Tr n Quốc P. Xác minh mời ông Tr n Quốc P chủ xe làm việc, nhưng Công an phường H xác nhận ông P có hộ khẩu tại địa ch 64B Chu T, phường H, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng đã bán nhà đi đâu không rõ.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thế Thanh Thiên T và Nguyễn Đình P đã khai nhận hành vi phạm tội như trên, lời khai của các bị can ph hợp với lời khai bị hại và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vật chứng vụ án:
- 01 xe g n máy hiệu Honda PCX, màu đen; số máy: JF56E0030381, số khung: 560SEY414083, biển số: 47U1-580.40; 01 ổ khóa xe g n máy đã bị hư (được tháo ra t xe máy biển số: 47U1-580.40). Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả cho bị hại là anh Nguyễn Tr n Hải H là chủ sở h u, anh H đã nhận lại tài sản.
- Đối với 01 xe g n máy hiệu SUZUKI SATRIA, màu đỏ - đen; số máy: CGA1JD172400, số khung: 11AZJJ172369, biển số: 59T-240.30, T và P d ng làm phương tiện gây án. Qua xác minh, xe này là của chị Hoàng Kim T, là cô ruột của T. Ngày 11-9-2019, chị T có cho T mượn làm phương tiện đi lại và chị T không biết, không liên quan việc T và P trộm c p tài sản. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả cho chủ sở h u là chị Hoàng Kim T, chị T đã nhận lại tài sản và không có yêu c u gì thêm.
- 01 đoạn đoản b ng kim loại màu tr ng dài 7,5 cm, có 02 đ u: Một đ u hình lục giác, một đ u nhọn đã bị gãy; 01 đoạn đoản b ng kim loại màu tr ng dài 6,5 cm, có 02 đ u: Một đ u hình lục giác, một đ u nhọn; 01 đoạn đoản b ng kim loại dài 7,3 cm, có 02 đ u: Một đ u hình lục giác, một đ u nhọn; 01 đoạn đoản b ng kim loại màu tr ng dài 6,8 cm, có 02 đ u: Một đ u hình lục giác, một đ u nhọn; 01 đoạn đoản b ng kim loại màu tr ng dài 8,5 cm, có 02 đ u: Một đ u hình lục giác, một đ u nhọn; 01 đoạn đoản b ng kim loại màu tr ng dài 6,5 cm, có 02 đ u: Một đ u hình tròn, một đ u nhọn; 01 thanh kim loại màu vàng dài 4,6 cm; 01 cây cờ lê b ng kim loại có ch TOTAL kh c trên thân, dài 15,5 cm;
- 01 đ u đoản b ng kim loại bị gãy dài 2,5cm, một đ u b ng một đ u nhọn
- 01 biển số xe g n máy số: 59D2-551.71;
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S8 màu xám, số IMEI: 358059081794475, đã qua sử dụng. Điện thoại này là tài sản cá nhân của T.
Trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Nguyễn Tr n Hải H yêu c u T và P bồi thường chi phí sửa ch a 01 ổ khóa xe g n máy đã bị hư (được tháo ra t xe máy biển số: 47U1-580.40) số tiền 992.000 đồng. Gia đình các bị can đã bồi thường đủ, anh H không yêu c u gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKS-HS ngày 31-12-2019 Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đã truy tố bị cáo Nguyễn Thế Thanh Thiên T về tội Trộm c p tài sản quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự và Nguyễn Đình P về tội Trộm c p tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt:
- Bị cáo T t 02 năm 06 tháng đến 03 năm t ;
- Bị cáo P t 01 năm 06 tháng đến 02 năm t .
Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy số đoản và tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động do Công an Quận 3 thu gi ; giao biển số xe 59D2 – 551.71 cho Phòng CSGT – Công an Thành phố Hồ Chí Minh xử lý
Các bị cáo Nguyễn Thế Thanh Thiên T và Nguyễn Đình P đã nhận th y hành vi vi phạm pháp luật của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận th y như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 3, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ biên bản b t người phạm tội quả tang do Công an Phường 12, Quận 3 lập ngày 11-10-2019; lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay; bản Kết luận định giá tài sản số 133 KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 16-10-2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 3; các Kết luận giám định của Phòng k thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh; lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng đã thu gi được c ng với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Thế Thanh Thiên T là đối tượng đã có tiền án thuộc trường hợp tái phạm, chưa hết thời gian để được xem là đã xóa án tích. Vào khoảng 13 giờ ngày 11-10-2019, bị cáo Nguyễn Thế Thanh Thiên T điều khiển xe g n máy hiệu Suzuki Satria màu đỏ-đen, biển số: 59D2-551.71 chở Nguyễn Đình P chạy lòng vòng, tìm người để sơ hở tài sản thì trộm c p. Khi đến trước nhà số 413/11 Lê Văn S , Phường 12, Quận 3 cả hai phát hiện có 01 xe Honda hiệu PCX, biển số: 47U1-580.40 của anh Nguyễn Tr n Hải H dựng trước cửa, không có người trông coi, tên T d ng xe lại để P đi đến lén lút dùng đoản b khóa phá khóa cổ xe g n máy để chiếm đoạt chiếc xe trên có giá trị tài sản là 23.333.000 đồng, là đã phạm tội Trộm c p tài sản . Tội phạm và hình phạt của bị cáo Nguyễn Thế Thanh Thiên T thuộc trường hợp được qui định tại điểm g khoản 2 Điều 173 và bị cáo Nguyễn Đình P được qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo T và P đã t ng bị xử lý hình sự về hành vi chiếm đoạt, do vậy trước khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo hoàn toàn biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi sai trái s bị xã hội lên án, pháp luật tr ng trị; nhưng do động cơ tham lam và muốn có tiền để tiêu xài nhưng lại lười lao động nên các bị cáo đã cố ý thực hiện việc phạm tội. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không nh ng đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng x u đến trật tự trị an tại địa phương; do vậy các bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành vi mà mình đã gây ra.
Đây là vụ án mang tính đồng phạm giản đơn, trong đó T là k rủ rê, đề xướng; P với vai trò giúp sức tích cực và là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội; do vậy áp dụng Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo là có căn cứ.
Tuy nhiên cũng xét tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ thật sự ăn năn hối cải; gia đình các bị cáo đã bồi thường thiệt hại và bị hại đã làm đơn bãi nại; các bị cáo cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến c ng vì nh ng nguyên nhân ngoài ý muốn; do đó áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15, Điều 57 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một ph n hình phạt mà l ra các bị cáo phải chịu.
Vật chứng của vụ án: Xét số đoản do Cơ quan điều tra thu gi không có giá trị sử dụng và 01 điện thoại di động là công cụ, phương tiện d ng vào việc phạm tội; do vậy tịch thu, tiêu hủy và nộp ngân sách nhà nước là có căn cứ. Giao biển số xe 59D2 – 551.71 cho Phòng CSGT – Công an Thành phố Hồ Chí Minh xử lý là ph hợp.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thế Thanh Thiên T và Nguyễn Đình P đã phạm tội Trộm c p tài sản .
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 17, Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15, Điều 57 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thế Thanh Thiên T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng t ; thời hạn t tính t ngày bị b t phạm tội quả tang là ngày 11 tháng 10 năm 2019.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17, Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15, Điều 57 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Đình P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn t tính t ngày bị b t phạm tội quả tang là ngày 11 tháng 10 năm 2019.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu và tiêu hủy: 01 đoạn đoản b ng kim loại màu tr ng dài 7,5 cm, có 02 đ u: Một đ u hình lục giác, một đ u nhọn đã bị gãy; 01 đoạn đoản b ng kim loại màu tr ng dài 6,5 cm, có 02 đ u: Một đ u hình lục giác, một đ u nhọn; 01 đoạn đoản b ng kim loại dài 7,3 cm, có 02 đ u: Một đ u hình lục giác, một đ u nhọn; 01 đoạn đoản b ng kim loại màu tr ng dài 6,8 cm, có 02 đ u: Một đ u hình lục giác, một đ u nhọn; 01 đoạn đoản b ng kim loại màu tr ng dài 8,5 cm, có 02 đ u: Một đ u hình lục giác, một đ u nhọn; 01 đoạn đoản b ng kim loại màu tr ng dài 6,5 cm, có 02 đ u: Một đ u hình tròn, một đ u nhọn; 01 thanh kim loại màu vàng dài 4,6 cm; 01 cây cờ lê b ng kim loại có ch TOTAL kh c trên thân, dài 15,5 cm;
- Tịch thu và nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S8 màu xám, số Imei 1: 358059081794475, số Imei 2: 358060081794473;
- Giao 01 biển số xe g n máy: 59D2 – 551.71 cho Phòng CSGT – Công an Thành phố Hồ Chí Minh xử lý.
(Tài sản tịch thu, tiêu hủy; tịch thu, nộp ngân sách nhà nước và giao cho Phòng CSGT - Công an Thành phố Hồ Chí Minh theo Lệnh nhập kho vật chứng số 245 CSĐT-TTXH ngày 05-10-2019 của Công an Quận 3).
Áp dụng khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97 2015 QH3 ngày 25-11-2015 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
M i bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án, các bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Bị hại và người có quyền lợi liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận : - TAND Tp. HCM; - VKSND Quận 3; - Công an Quận 3; - Sở Tư pháp; - Chi cục Thi hành án dân sự Q3; - Các đương sự; - Lưu VP, Hồ sơ (…) | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Vƣơng Xuân Đức |