vanban.org

Bản án 24/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 18/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN BÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2020/HS-ST
Ngày : 18/3/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Ngọc Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Phượng Quyên

2. Bà Phạm Thị Trịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương – Thư ký tòa án nhân dân quận Tân Bình - Tp. Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Giang - Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 22/2020/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo:

PHẠM XUÂN H; sinh năm 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: đường Đ, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Xuân H và bà: Mai Thị T; vợ : Trần Thị Ngọc B; con: 02 người; tiền án: không; tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: 17/10/2019. (Có mặt)

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 2000; địa chỉ cư trú: xóm Q, xã H, Huyện L, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 17/10/2019, Phạm Xuân H đang ở nhà thì T (không rõ lai lịch) gọi điện thoại rủ H đi trộm cắp tài sản. Do không có tiền tiêu xài nên H đồng ý. Khoảng 10 phút sau, T điều khiển xe Airblade màu đỏ đen (không rõ biển số) đến đầu hẻm gần nhà đón H. T chở H đi trên nhiều tuyến đường tìm tài sản sơ hở để chiếm đoạt. Trên đường đi, T đưa một bộ dụng cụ khóa tự chế dùng để phá khóa xe cho H cất giữ.

Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi lưu thông trên địa bàn quận Tân Bình, T phát hiện và chỉ cho H thấy tại trước cửa hàng số 1152 đường C, phường H, quận B có 01 chiếc xe gắn máy Vision biển số 72K1-117.52 cắm sẵn chìa khóa trên ổ khóa xe, không người trông coi. T dừng xe để H đi bộ lại chỗ chiếc Vision và bật chìa khóa xe lên, nhưng do sợ bị phát hiện nên H bỏ đi và leo lên xe của T. T chở H chạy một đoạn ngắn rồi quay xe lại dừng xe gần đó, H xuống xe đi bộ lại chỗ xe Vision biển số 72K1-117.52, ngồi lên xe, gạt chống nghiêng, đề máy nổ và lùi xe xuống lòng đường, rồ ga chạy thì bị ông Trần Đình H (bán hàng tại shop quần áo bên kia đường) phát hiện chạy qua dùng chân đạp vào xe máy làm cả xe và H ngã xuống. H bỏ xe chạy bộ đến số 1011 đường C, phường K, quận B thì bị ông H và người dân đi đường đuổi theo bắt giữ được giao cho Công an Phường 4, quận Tân Bình, còn T điều khiển xe máy Ariblade tẩu thoát. Tại cơ quan điều tra, Phạm Xuân H đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.

Vật chứng thu giữ:

- 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 72K1-11752, số khung: RLHJF3307CY156025, số máy: JF33E-0156067. Kết luận định giá tài sản trong Tố tụng hình sự tại thời điểm tháng 10/2019 xe có giá 16.000.000 đồng, đã trả lại cho bị hại Nguyễn Thị Kim N, chị N không có yêu cầu gì khác.

- 01 gói niêm phong bên ngoài có hình dấu Công an phường 4, quận Tân Bình và chữ ký của ông Nguyễn Đình H, bên trong là 01 USB màu trắng hiệu Toshiba ghi nhận hình ảnh H lấy trộm xe máy, kèm theo hồ sơ vụ án.

- 01 thanh kim loại dài 08cm, một đầu dẹp nhọn, đầu còn lại hình lục giác; 01 khóa kim loại chữ “L” loại 08mm, một đầu quấn băng keo màu xanh dài khoảng 15cm; 01 thanh kim loại màu vàng, hình trụ kích thước 02cm x 0.5cm x 0.5cm, hai đầu có gắn nam châm.

- 01 gói niêm phong bên ngoài có hình dấu Công an phường 4, quận Tân Bình và chữ ký của Phạm Xuân H, bên trong là 01 áo sơ mi sọc caro màu tím đen, 01 quần jean màu xanh xám, 01 nón bảo hiểm màu xanh hiệu Helmet có hình Đoraemon

- 01 gói niêm phong bên ngoài có hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Tân Bình và chữ ký của Phạm Xuân H, bên trong là 01 áo thun ngắn tay màu xanh có chữ “Suboy”.

Đối tượng Trường do chưa xác định được lai lịch, chưa làm việc được nên chưa có cơ sở để xử lý, khi làm việc được sẽ xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 04 tháng 02 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Phạm Xuân H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nêu các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 18 tháng tù.

Về vật chứng thì đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Kim N đã nhận lại tài sản không có ý kiến yêu cầu gì đối với bị cáo.

- Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đồng thời bị cáo khai nhận, do muốn có tiền tiêu xài, sử dụng ma tuý nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp như cáo trạng đã nêu.

Sau phần luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận, bào chữa mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chiếu cố giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Phạm Xuân H, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, bị hại không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Xuân H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 72K1-11752 có giá trị là 16.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị Kim N đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, vừa trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác bị pháp luật ngăn cấm và bị trừng trị nhưng do động cơ tham lam, tư lợi nên bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét tình tiết: bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Kim N đã nhận lại tài sản không có ý kiến yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tang vật vụ án:

- 01 USB màu trắng hiệu Toshiba ghi nhận hình ảnh H trộm cắp xe máy, cần tiếp tục lưu giữ vào hồ sơ vụ án.

- 01 áo sơ mi sọc caro màu tím đen, 01 quần jean màu xanh xám, 01 nón bảo hiểm màu xanh hiệu Helmet có hình Đoraemon; 01 áo thun ngắn tay màu xanh có chữ “Suboy” là vật không còn giá trị sử dụng và bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu huỷ.

- 01 thanh kim loại dài 08cm, một đầu dẹp nhọn, đầu còn lại hình lục giác; 01 khóa kim loại chữ “L” loại 08mm, một đầu quấn băng keo màu xanh dài khoảng 15cm; 01 thanh kim loại màu vàng, hình trụ kích thước 02cm x 0.5cm x 0.5cm, hai đầu có gắn nam châm là dụng cụ dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

[1] Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo: PHẠM XUÂN H 01 (Một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam: 17/10/2019.

[2]- Tịch thu và tiêu hủy: 01 thanh kim loại dài 08cm, một đầu dẹp nhọn, đầu còn lại hình lục giác; 01 khóa kim loại chữ “L” loại 08mm, một đầu quấn băng keo màu xanh dài khoảng 15cm; 01 thanh kim loại màu vàng, hình trụ kích thước 02cm x 0.5cm x 0.5cm hai đầu có gắn nam châm; 01 áo sơ mi sọc caro màu tím đen; 01 quần jean màu xanh xám; 01 nón bảo hiểm màu xanh hiệu Helmet có hình Đoraemon; 01 áo thun ngắn tay màu xanh có chữ “Suboy”.

- Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 USB màu trắng hiệu Toshiba đã được niêm phong.

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 219/PNK ngày 11/12/2019 của Công an quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh).

[3] Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hoặc ngày Tòa án tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ.

Cỡ chữ