- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Văn Phúc phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 24/2020/HS-ST Ngày 03-3-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trƣơng Văn Kiệt
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Quang Tuyến
Ông Nguyễn Phƣớc Lộc
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Chí, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm Ngọc Phƣơng, Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 12/2020/HSST ngày 03 tháng 02 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2020/QĐXXST-HS, ngày 03 tháng 02 năm 2020, quyết định hoãn phiên tòa số: 02/HSST-QĐ ngày 18 tháng 02 năm 2020, đối với bị cáo:
- Trần Văn P (SK), sinh năm 1989, tại: Tp.Sóc Trăng, Sóc Trăng; Nơi cư trú: Số 199/3, Trần Văn B Khóm 5, Phường 3, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 02/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị L; Bị can chưa có vợ; Em ruột có 03 người lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1990; Tiền án: 01 lần, vào ngày 09-5-2006 bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 04 năm tù, về tội: Cướp tài sản, theo quy định tại khoản 2 Điều 133 Bộ luật hình sự năm 1999. Ngày 09-5-2009 chấp hành xong hình phạt tù, nhưng chưa được xóa án tích do đến ngày 08-7-2018 mới thực hiện nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm. Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29-10-2019 đến nay, (có mặt).
- Ngƣời bị hại:
Bà Trần Thị Bích Đ, sinh năm 1965 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Cây Thông N, xã CD, huyện Phú Quốc - Kiên Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 21 giờ, ngày 17-01-2017, Nguyễn Văn Nh, Trần Văn P cùng một số người bạn (chưa rõ nhân thân) đến quán Karaoke 99 của chị Trần Thị Bích Đ, tại ấp Cây Thông N, xã CD, huyện Phú Quốc để uống bia và hát Karaoke tại phòng số 02. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, cả nhóm tính tiền ra về, một số người đi ra trước, P và Nh đi ra sau. Lúc này P lấy trộm cái máy tính bảng, hiệu HANET Smartlist, model T01TLAN, màu đen dùng để bấm bài hát để về sử dụng đưa cho Nh. Tuy không có sự bàn bạc trước nhưng Nh hiểu ý P nên giấu máy tính bảng vào áo đang mặc rồi cả hai đi về, Nh đem máy về nhà tại xã CC cất giấu, sau đó bị phát hiện. Ngày 14-3-2017 Công an huyện Phú Quốc khởi tố và ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Nh, còn P thì bỏ trốn. Ngày 29-10-2019 P ra đầu thú và bị bắt tạm giam cho đến nay.
Tang vật thu giữ: 01 máy tính bảng hiệu HANET Smartlist, model T01TLAN, màu đen đã qua sử dụng. (Tài sản trên đã trả lại cho chủ sở hữu).
* Tại bản kết luận về giá trị tài sản số 11/KL-HĐĐG ngày 24/02/2019 của Hội đồng định gia tài sản huyện Phú Quốc kết luận: Máy tính bảng hiệu HANET Smartlist, model T01TLAN, màu đen đã qua sử dụng, trị giá 5.520.000đ.
Bản cáo trạng số: 24/CT-VKSPQ ngày 16 tháng 01 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc đã truy tố bị cáo Trần văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia phiên tòa kết luận hành vi của bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1, Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 9 đến 12 tháng tù.
Về vật chứng: Đã trao trả cho chủ sở hữu, đề nghị HĐXX miễn xét.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đề nghị HĐXX miễn xét
Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Quốc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai nhận tại Cơ quan điều tra, và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Vào khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 17-01-2017, Nguyễn Văn Nh và Trần Văn P vào quán Karaoke 99 của bà Trần Thị Bích Đ lấy trộm 01 máy tính bảng dùng để bấm bài hát, trị giá 5.520.000 đồng. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Bị cáo Trần Văn P đã có tiền án về tội cướp tài sản của người khác, đã bị Tòa án tỉnh Kiên Giang xử phạt chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo đã lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của chủ sỡ hữu, lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản, sau khi bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Quốc phát hiện thì bị cáo lại bỏ trốn, gây khó khăn cho quá trình điều tra xử lý tội phạm. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sỡ hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bản thân đã từng bị xử phạt về hành vi cướp tài sản, chưa được xóa án tích nhưng bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới được xem là tái phạm theo quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 BLHS, hành vi của bị cáo đã thể hiện rõ ý thức xem thường kỹ cương pháp luật. Do đó, cần xử bị cáo một mức hình phạt nghiêm khắc để có đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy sau khi bị Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Phú Quốc truy nã thì bị cáo đã ra đầu thú tại phiên tòa và tại cơ quan Điều tra bị cáo thật thà khai báo, lời nói sau cùng thể hiện có thái độ biết ăn năn hối cải. Do vậy, sau khi thảo luận nghị án Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi lượng hình đối với bị cáo là phù hợp.
Đối với vật chứng: Đã trao trả cho chủ sở hữu nên HĐXX miễn xét.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm, HĐXX miễn xét.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Xử phạt: Trần Văn P 9 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29-10-2019 (bị cáo bị bắt tạm giam).
3. Về vật chứng: Hội đồng xét xử miễn xét.
4. Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử miễn xét.
5. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (người bị hại vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú) để yêu cầu xét xử phúc thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Phú Quốc; - Chi cục THADS huyện Phú Quốc; - Bị cáo,bị hại; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trƣơng Văn Kiệt |