vanban.org

Bản án 24/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 07/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Nông Thế Ph, Hoàng Văn Th phạm tội Trộm cắp tài sản .

Xử phạt bị cáo Nông Thế Ph 10(mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 02/4/2020. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Th 01(một) năm tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn Th; Nông Thế Ph - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nông Thế Ph, Hoàng Văn Th phạm tội Trộm cắp tài sản .
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 51 Bộ luật hình sự s xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NÔ
TỈNH ĐĂK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:24/2020/HS-ST
Ngày 07-8-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐĂK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Xuân Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đình Bông

Ông Nguyễn Quang Châu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Hường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Nô.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Vũ Hồng Hoa– Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2020/HSST ngày 26 tháng 6 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:19/2020/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2020, đối với các bị cáo:

1. Nông Thế Ph, sinh năm: 1986; tại: tỉnh Lạng Sơn; trú tại: Thôn Thanh S, xã N, huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn Q, sinh năm 1961 và bà Lương Thị H, sinh năm 1963; bị cáo có vợ Lương Thị Ph và 04 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án: Không; tiền sự: 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (tại quyết định xử phạt hành chính số 66/QĐ-XPHC ngày 22/7/2019 của Công an huyện Krông Nô, bị cáo chưa chấp hành nộp phạt). Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/4/2020 đến ngày 04/4/2020 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Krông Nô - Có mặt.

2. Hoàng Văn Th, sinh năm: 1988; tại: tỉnh Lạng Sơn; Nơi ĐKHKTT: Buôn Z, xã E, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên; trú tại: Thôn L, xã N, huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Ph, sinh năm 1959 (đã chết) và bà Tô Thị Ph, sinh năm 1962; bị cáo có vợ Đinh Thị V và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án: Không; tiền sự: 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (tại quyết định xử phạt hành chính số 67/QĐ-XPHC ngày 22/7/2019 của Công an huyện Krông Nô, bị cáo chưa chấp hành nộp phạt); nhân thân: Ngày 23/4/2020 thực hiện hành vi trộm cắp tại xã Long Sơn, huyện Đăk Mil, bị công an huyện Đăk Mil khởi tố về tội Trộm cắp tài sản và ngày 23/7/2020 Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Hiện đang bị tạm giam trong vụ án khác tại nhà tạm giữ Công an huyện Đăk Mil- Có mặt.

2. Bị hại: Ông Y Kh Niê; trú tại: Bon Đăk L, xã Đăk G, huyện Đăk Mil (Có đơn xin xét xử vắng mặ)t.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Đinh Thị V; trú tại: Thôn L, xã N, huyện Krông Nô -Vắng mặt.

Anh Nguyễn Đình V; trú tại: Thôn Đăk H, xã Đăk S, huyện Đăk Mil - (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Chị Lương Thị Ph; trú tại: Thôn Thanh S, xã N, huyện Krông Nô - Vắng mặt

Anh Nông Thế H; trú tại: Thôn Thanh S, xã N, huyện Krông Nô. Có mặt.

Bà Tô Thị Ph; trú tại: Thôn L, xã N, huyện Krông Nô - Có mặt.

4. Người làm chứng:

Chị Lê Thị T; trú tại: Thôn Đăk H, xã Đăk S, huyện Đăk Mil - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do đều là đối tượng nghiện ma túy, nên Nông Thế Ph và Hoàng Văn Th có quen biết nhau, chiều ngày 29/3/2020 sau khi làm r y về Ph đến nhà Th tại thôn L, xã N, huyện Krông Nô chơi. Tại đây Ph và Th nói chuyện với nhau về chiếc máy n của ông Y Kh Niê đang để ở r y bên cạnh r y của gia đình Ph cùng tại thôn L, xã N, huyện Krông Nô nhưng không có người trông coi và cả hai thống nhất trộm cắp đ u máy n trên để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Th đi xe dream, màu nâu, không xác định được biển kiểm soát đến r y của Ph, khi thấy Th đến, Ph đi lấy chiếc cờ lê số 17 trong hộp đồ nghề trên xe càng của gia đình và cùng Th đi đến ch để đ u máy n của ông Y Kh. Tại đây, Ph dùng chiếc cờ lê số 17 tháo lỏng chân ốc gắn đ u máy n với bệ sắt để Th dùng tay vặn những con ốc đó ra khỏi chân ốc, rồi cả hai bê đ u máy n lên xe của Th. Sau đó, Th chở đ u máy n đi cất giấu tại r y của một người dân, còn Ph đi xe máy nhãn hiệu YMHMAXNEO, màu tím, biển kiểm soát 48 AB – 023.34 hướng về xã Long Sơn, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông. Sau khi cất giấu đ u máy n xong thì Th gặp lại Ph và cả hai h n gặp nhau vào sáng hôm sau ngày 30/03/2020 tại khu vực c u 2 thuộc thôn Tây Sơn, xã Long Sơn, huyện Đắk Mil để cùng đi bán đ u máy n trộm cắp được. Đến sáng ngày 30/03/2020, Th đi xe máy dream, còn Ph đi xe máy YMHMAXNEO có đặc điểm như trên đến khu vực c u 2, cả hai cùng nhau đến khu vực Th cất giấu đ u máy n và cùng bê đ u máy n lên xe máy để Th chở, còn Ph đi xe máy YMHMAXNEO. Cả hai cùng đến cửa hàng nông cơ Hải Vân tại thôn Đắk Hà, xã Đăk Săk, huyện Đăk Mil, tỉnh Đắk Nông của gia đình anh Nguyễn Đình V bán đ u máy n với giá 4.400.000 đồng. Sau khi bán đ u máy n , Ph c m số tiền 2.400.000 đồng, còn Th c m số tiền 2.000.000 đồng, trong đó: Th đã sử dụng hết số tiền 2.000.000đồng để mua ma túy; còn Ph sử dụng khoảng 450.000 đồng mua 01 bộ qu n áo, số tiền còn lại Ph sử dụng mua ma túy và tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 31/3/2020, ông Y Kh Niê đi vào làm r y phát hiện bị mất đ u máy n nên làm đơn trình báo Công an, ngày 02/4/2020 Nông Thế Ph đến Công an đ u thú về hành vi trộm cắp tài sản và chỉ nơi bán chiếc máy n hiệu VIKYNO, loại RV125 – 2, màu sơn đỏ đã trộm cắp của ông Y Khôi Niê, Công an tiến hành thu giữ chiếc máy n hiệu VIKYNO, loại RV125 – 2, màu sơn đỏ là vật chứng vụ án.

Ngày 02/4/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Nô ra Yêu c u định giá tài sản số 639 để định giá 01 (một) đ u máy n hiệu VIKYNO, loại RV125 – 2, màu sơn đỏ, mua mới năm 2008 tại thời điểm bị thiệt hại. Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 12/KL – HĐĐG ngày 03/4/2020 của Hội đồng ĐG BĐGTS – Ủy ban nhân dân huyện Krông Nô xác định: giá trị 01đ u máy n hiệu VIKYNO, loại RV125 – 2, màu sơn đỏ, mua mới năm 2008 tại thời điểm bị thiệt hại là 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm ngàn đồng).

Ngày 03/4/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Nô đã Quyết định khởi tố vụ án Trộm cắp tài sản và khởi tố bị can đối với Nông Thế Ph, ngày 11/5/2020 khởi tố bị can đối với Hoàng Văn Th.

Tại bản Cáo trạng số: 27/CT-VKS ngày 25/6/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô đã truy tố các bị cáo Nông Thế Ph, Hoàng Văn Th về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô và thừa nhận Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng, không oan.

Kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô khẳng định việc truy tố các bị cáo Nông Thế Ph, Hoàng Văn Th ra trước Tòa án nhân dân huyện Krông Nô để xét xử về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người đúng tội, đúng pháp luật và giữ nguyên bản Cáo trạng số: 27/CT-VKS ngày 25/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố các bị cáo Nông Thế Ph, Hoàng Văn Th phạm tội Trộm cắp tài sản . Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự (BLHS); Xử phạt bị cáo Nông Thế Ph, từ 07 đến 12 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/4/2020. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Th từ 06 đến 09 tháng tù,

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 3, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS), chấp nhận quyết định xử lý vật chứng số 400 ngày 04/4/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Nô trả 01 (một) đ u máy n hiệu VIKYNO, loại RV125 – 2, màu sơn đỏ (đã qua sử dụng) cho chủ sở hữu là ông Y Khôi Niê.

Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại:

- 01 (một) xe máy, nhãn hiệu YMHMAXNEO, màu tím, biển kiểm soát: 48AB – 023.34 (xe đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong máy) và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe máy, số: 005059 mang tên Phạm Thị Sáu, biển số đăng ký: 48AB – 023.34, đăng ký l n đ u ngày 09/10/2012 cho chủ sở hữu là chị Lương Thị Phương

- Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy đối với:

+ 01 (một) cờ lê 17, dài 21cm, b ng kim loại màu trắng, bị sét rỉ chuyển màu đen, một đ u tròn, một đ u có hai cạnh.

+ 01 (một) áo sơ mi, màu vàng, có gắn mác chữ KWN, KAWERNU, size M trên c áo phía sau; 01 (một) qu n dài b ng vải, size 29, màu xanh đen;

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Y Kh Niê đã nhận lại tài sản và yêu c u các bị cáo phải bồi thường số tiền 5.000.000 đồng giá trị chuộc lại máy n và công tìm kiếm. Bị cáo Ph đã tác động gia đình bồi thường số tiền trên cho bị hại, cụ thể, anh Nông Thế H bồi thường thay cho bị cáo Ph số tiền 2.500.000đồng, m bị cáo Hoàng Văn Th (bà Tô Thị Ph) bồi thường số tiền 2.500.000đồng. Bị hại ông Y Kh Niê có đơn bãi nại và đề nghị xin giảm nh hình phạt cho các bị cáo.

Tai phiên tòa các bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nh hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Do thống nhất từ trước, nên vào khoảng 18 giờ ngày 29/03/2020, Nông Thế Ph và Hoàng Văn Th đã lợi dụng lúc gia đình ông Y Kh Niê không có ai trông coi tại r y cà phê thuộc thôn Lương Sơn, xã Nam Xuân, huyện Krông Nô đã lén lút, bí mật lấy 01 đ u máy n hiệu VIKYNO, loại RV125 – 2, màu sơn đỏ của gia đình ông Y Kh Niê đang để tại r y. Giá trị tài sản 01đ u máy n hiệu VIKYNO, loại RV125 – 2, màu sơn đỏ tại thời điểm bị thiệt hại là 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm ngàn đồng).

Như vậy, đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận hành vi nêu trên của các bị cáo Nông Thế Ph và Hoàng Văn Th đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật hình sự. Việc Viện kiểm sát nhân huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông truy tố các bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

. Xét hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương, gây hoang mang trong qu n chúng nhân dân. Các bị cáo là người có đ y đủ nhận thức để biết được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng với ý thức coi thường pháp luật, chỉ vì lòng tham muốn tài sản của người khác mà không c n phải lao động, các bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật về trộm cắp tài sản mà không nghĩ đến hậu quả việc làm của bản thân, để có tiền tiêu xài nhanh không phải lao động mà các bị cáo đã lợi dụng sơ hở của gia đình ông Y Khôi Niê để chiếm đoạt tài sản là chiếc đ u máy n dùng để tưới nước để tại r y, là công cụ phục vụ việc sản xuất nông nghiệp. Do đó, HĐXX xét thấy c n xử phạt các bị cáo hình phạt tương xứng để giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống; đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa tội phạm. HĐXX xét thấy c n cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nh m để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Tình tiết giảm nh ; Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, phạm tội l n đ u và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng các bị cáo đây là tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, i khoản 1, Điều 51Bộ luật hình sự, bị cáo Ph đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại số tiền 2.500.000 đồng, người bị hại xin giảm nh hình phạt cho bị cáo, quá trình điều tra đã đ u thú về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51Bộ luật hình sự. Bị cáo Th đã được m bị cáo bồi thường thay bị cáo số tiền 2.500.000 đồng cho bị hại, bị hại xin giảm nh hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nh quy định tại khoản 2 Điều 51Bộ luật hình sự.

.Về nhân thân: Các bị cáo Nông Thế Ph, Hoàng Văn Th đều có 01 tiền sự về tội sử dụng trái phép chất ma túy, bị xử phạt 750.000 đồng theo Quyết định xử phạt của Công an huyện Krông Nô, hiện nay các bị cáo chưa chấp hành nộp phạt. Bị cáo có Hoàng Văn Th ngày 29/3/2020 cùng bị cáo Nông thế Ph thực hiện hành vi trộm cắp tài sản huyện Krông Nô, bị Công an huyện Krông Nô khởi tố về tội Trộm cắp tài sản tiếp đó ngày 23/4/2020 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại xã Long Sơn, huyện Đăk Mil, bị Công an huyện Đăk Mil khởi tố về tội Trộm cắp tài sản đến ngày 23/7/2020 Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số: 31/2020/HS-ST, 23/7/2020 hiện nay bản án chưa có hiệu lực pháp luật,

Về t ng hợp hình phạt của nhiều bản án: Bị cáo Hoàng Văn Th bị Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil xử phạt 06 tháng tù về tội rộm cắp tài sản theo Bản án số: 31/2020/HS-ST ngày 237/2020, đối với hành vi phạm tội diễn ra sau hành vi phạm tội bị xét xử hôm nay nên không xem là tiền án và hiện nay bản án chưa có hiệu lực pháp luật nên không t ng hợp trong trong vụ án này mà sẽ t ng hợp sau khi các bản có hiệu lực pháp luật.

Từ những nhận định nêu trên, xét nhân thân, điều kiện hoàn cảnh của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, c n phải xử phạt bị cáo Hoàng Văn Th mức án cao hơn bị cáo Nông Thế Ph.

. Xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nông Thế Ph từ 07 đến 12 tháng tù; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự s xử phạt bị cáo Hoàng Văn Th từ 06 đến 09 tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Nông Thế Ph là phù hợp nên c n chấp nhận. Đối với mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo Hoàng Văn Th thấp hơn bị cáo Nông Thế Ph là chưa phù hợp so với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Lý do, xét toàn diện nội dung vụ án trên cơ sở xem xét các chứng cứ khác như bị cáo có sự tính toán, chuẩn bị đi trộm cắp tài sản từ trước, để trộm cắp tài sản, giá trị tài sản trộm cắp gấp 02 l n mức khởi điểm bị truy tố trách nhiệm hình sự, sau khi thực hiện hành vi phạm tội cùng bị cáo Ph vào ngày 29/3/2020 đến ngày 23/4/2020 lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản, nên c n xử bị cáo Th cao hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới phù hợp.

. Về hình phạt b sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định“Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng” do đó, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt b sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo không có tài sản, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Do đó, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt b sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

. Đối với anh Nguyễn Đình V là người mua máy n của các bị cáo, do anh V không biết đây là tài sản trộm cắp nên không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự.

.Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015: Chấp nhận bị cáo và gia đình các bị cáo tự nguyện bồi thường số tiền 5.000.000 đồng cho bị hại. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì nên không xem xét.

. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 48 Bộ luật hình sự. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Nô và ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên về xử lý vật chứng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử c n chấp nhận:

. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nông Thế Ph, Hoàng Văn Th m i bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Nông Thế Ph, Hoàng Văn Th phạm tội Trộm cắp tài sản .

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nông Thế Ph.

Xử phạt bị cáo Nông Thế Ph 10(mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 02/4/2020.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hoàng Văn Th.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Th 01(một) năm tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.

2. Về hình phạt b sung: Không áp dụng hình phạt b sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015: Chấp nhận việc tự nguyện bồi thường giữa gia đình các bị cáo và bị hại về số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) cho bị hại.

4. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận quyết định xử lý vật chứng số 400 ngày 04/4/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Nô; đã trả 01 (một) đ u máy n hiệu VIKYNO, loại RV 125 – 2, màu sơn đỏ (đã qua sử dụng) cho chủ sở hữu là ông Y Kh Niê.

Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 trả lại:

- 01(một) xe máy, nhãn hiệu YMHMAXNEO, màu tím, biển kiểm soát:48AB – 023.34 (xe đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong máy) và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe máy, số: 005059 mang tên Phạm Thị Sáu, biển số đăng ký: 48AB – 023.34, đăng ký l n đ u ngày 09/10/2012 cho chủ sở hữu là chị Lương Thị Ph.

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy đối với:

- 01(một) cờ lê 17, dài 21cm, b ng kim loại màu trắng, bị sét rỉ chuyển màu đen, một đ u tròn, một đ u có hai cạnh.

- 01 (một) áo sơ mi, màu vàng, có gắn mác chữ KWN, KAWERNU, size M trên c áo phía sau; 01(một) qu n dài b ng vải, size 29, màu xanh đen.

(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/6/2020 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Krông Nô và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông.

5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nông Thế Ph, Hoàng Văn Th m i bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ