vanban.org

Bản án 24/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 26/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Phạt Nguyễn Văn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn H bồi thường cho bà Mang Thị B 1.200.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hiền trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM TÂN
TỈNH BÌNH THUẬN
Bản án số: 24/2020/HS-ST
Ngày: 26/8/2020

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN

Với thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Phú Phước

Các Hội Thẩm Nhân Dân: Ông Phan Quang Sơn và ông Phạm Hữu Ái.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hồ Thị Thương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa: Ông Nông Ngọc Tuất - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 22/2020/TLST-HS ngày 21/7/2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2020/QĐXXST-HS ngày 11/8/2020 đối với bị cáo;

NGUYỄN VĂN H (tên gọi khác: Hiền da đen), sinh năm 1989 tại Bình Thuận

Nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận;

Nghề nghiệp: Không;

Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Nguyễn H, sinh năm 1950 và bà Phạm Thị T, sinh năm 1949; cùng HKTT: Thôn M, xã H, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận;

Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ ba

Vợ: Chưa có

Tiền án: Không

Tiền sự: Ngày 01/12/2019, bị Công an xã Hàm Minh, huyện Hàm Thuận Nam ra Quyết định xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.

Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 81/2009/HSST ngày 20/8/2009 của TAND huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt ngày 12/4/2010. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 77/2010/HSST ngày 21/10/2010 của TAND huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt ngày 22/01/2012. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 96/2013/HSST ngày 12/11/2013 của TAND huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt ngày 04/4/2015.

Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hàm Thuận Nam, có mặt tại phiên tòa

Người bị hại:

- Ông Phạm Thành H, sinh năm 1994(vắng mặt)

HKTT: Thôn A, xã S, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận

- Ông Đặng Ngọc T, sinh năm 1983( có mặt)

- Bà Mang Thị B, sinh năm 1962 ( có mặt)

- Ông Nguyễn Quốc K, sinh năm 1985( vắng mặt)

Cùng HKTT: Thôn T, xã S, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận;

“NỘI DUNG VỤ ÁN:”

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 02 năm 2020 Nguyễn Văn H đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 05 giờ ngày 20/02/2020, H đi xe khách từ thành phố Hồ Chí Minh về Bình Thuận. Khi đến An Bình, Sông Phan, Hàm Tân thì H xuống xe đi theo đường nông thôn để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến nhà ông Phạm Thành Hạ, thấy trước nhà có xe mô tô biển số 86B5 – 045.86, chìa khóa xe vẫn cắm trên xe. Hiền liền đi đến lên xe nổ máy xe chạy ra Tân Lập, Hàm Thuận Nam thì xe bị lún hố đất nên Hiền giấu xe lại trong một đám cây. Đến ngày 23/02/2020, Công an huyện Hàm Thuận Nam truy bắt Hiền trong một vụ án khác đã phát hiện và thu giữ xe mô tô 86B5 – 045.86 giao lại cho Công an huyện Hàm Tân xử lý theo quy định.

Theo bản kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐGTS ngày 07/4/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hàm Tân xác định: Xe mô tô biển kiểm soát 86B5 – 045.86 có trị giá 5.600.000 đồng.

Lần Thứ hai: Vào khoảng 07 giờ 00 phút ngày 23/02/2020, Hiền đón xe khách từ thành phố Hồ Chí Minh về Bình Thuận. Khi đến ngã tư Sông Phan thì xuống đón xe ôm vào nhà bạn tên Th ở Tân Quang, Sông Phan, Hàm Tân nhưng Thịnh không có ở nhà. Lúc này, Hiền nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng. Hiền phát hiện nhà ông Nguyễn Quốc K chỉ có hai con nhỏ đang đang xem tivi ở phòng trước nên H lẻn vào phòng ngủ lục lấy được số tiền 1.600.000 đồng trong túi quần và 01 cái bóp rồi đi ra vườn thanh long thì bị ông Khánh phát hiện truy đuổi nhưng không kịp. Đi đươc một đoạn H lục bóp không thấy tài sản gì nên vứt lại rồi tiếp tục băng qua đường ray xe lửa đến nhà bà Mang Thị B, phát hiện không có ai ở nhà, H vào nhà lấy trộm 01 cái ví, 05 balo chứa quần áo, 01 cái điện thoại bị hư hỏng và 01 cây rựa rồi tiếp tục đi, H lục bóp lấy được 1.200.000 đồng rồi vứt lại cùng số balo ở chuồng gà nhà hàng xóm của bà B. Khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, Hiền đi đến nhà ông Đặng Ngọc T, đột nhập vào phòng của ông Trai lục tìm tài sản thì bị Đặng Ngọc T, phát hiện. Hiền liền nói với T “im, để cho ba ngủ, chú làm việc xíu rồi chú đi ra” và kêu T đi ra cửa sau, rồi H khép cửa lại. Hiền quay ra dắt xe mô tô biển số 60B7 – 257.36 đi ra phía trước. Lúc này, T thấy vậy chạy báo với bà ngoại là Thông Thị B, bà B hô lên “ăn trộm, ăn trộm”, ông T thức dậy phát hiện đuổi theo nhưng không kịp. H điều khiển xe mô tô 60B7 – 257.36 vừa trộm được chạy đến địa phận Hàm Thuận Nam thì vứt xe tại một đám thanh long và đi vào nhà người dân cướp 01 xe mô tô khác để bỏ trốn thì bị Công an huyện Hàm Thuận Nam bắt giữ, thu giữ xe mô tô 60B7 – 257.36 và bàn giao lại cho Công an huyện Hàm Tân xử lý.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 07/4/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hàm Tân xác định: Xe mô tô biển kiểm soát 60B7 – 257.36 có trị giá 8.900.000 đồng.

Ngoài hai vụ trộm trên, Nguyễn Văn H còn lấy trộm xe mô tô biển số 86B5 – 112.65 tại khu phố 6, thị trấn Tân Nghĩa, Hàm Tân (Hiện Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm Tân đang điều tra làm rõ) và ngày 31/3/2020, Nguyễn Văn Hiền bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm Thuận Nam khởi tố về các tội “Cướp tài sản, Trộm cắp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy ” theo quy định tại khoản 2 Điều 168, khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Vật chứng của vụ án: Xe mô tô biển số 86B5 – 045.86 Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm Tân đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Phạm Thành H; xe mô tô biển số 60B7 – 257.36 Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm Tân đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Đặng Ngọc T và 01 cây rựa dài 55cm, cán gỗ bằng tre trả lại cho bà Mang Thị Bình.

Về phần dân sự: ông Phạm Thành H, Đặng Ngọc T và ông Nguyễn Quốc K không có yêu cầu bồi thường gì về phần dân sự; Bà Mang Thị B yêu cầu Nguyễn Văn H bồi thường số tiền 1.200.000 đồng. Hiện Hiền vẫn chưa bồi thường cho bà B.

Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 17/7/2020 của VKSND huyện Hàm Tân đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” khoản 1 điều 173 BLHS;

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và thống nhất với các điều khoản mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân đã viện dẫn trong cáo trạng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn H; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Hiền từ 24 đến 36 tháng tù.

Tại phiên tòa, bị cáo trình bày lời nói sau cùng, qua đó, bị cáo đã nhận tội như cáo trạng truy tố và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

“NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:”

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan công an huyện Hàm Tân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Nguyễn Văn H là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Tại địa bàn xã Sông Phan, huyện Hàm Tân, vào ngày 20/02/2020 Nguyễn Văn H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô biển kiểm soát 86B5- 045.86 của ông Phạm Thành Hạ có giá trị 5.600.000 đồng; vào ngày 23/02/2020 Nguyễn Văn H tiếp tục lén lút chiếm đoạt của ông Nguyễn Quốc K 1.600.000 đồng, của bà Mang Thị B 1.200.000 đồng và 01 cây rựa, của ông Đặng Ngọc T xe mô tô biểm soát 60B7-257.36 trị giá 8.900.000 đồng. Tổng cộng tài sản bị cáo chiếm đoạt là 17.300.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 BLHS.

[3] Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân căn cứ vào hành vi 02 lần trộm cắp tài sản có giá trị 17.300.000 đồng để truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 BLHS. Đây là chứng cứ buộc tội đúng người, đúng tội nên HĐXX chấp nhận.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó không chỉ vi phạm pháp luật mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Ngoài ra bị cáo đã phạm tội 02 lần có 01 tiền sự và có nhân thân rất xấu là 03 lần phạm tội trộm cắp tài sản, đây là những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 52 BLHS do đó HĐXX cần xử lý nghiêm.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, nên HĐXX cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[8] Về vật chứng vụ án: Xe mô tô biển kiểm soát 60B7-257.36, 86B5-045.86 và cây rựa dài 55cm cán bằng gỗ Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm Tân đã trả lại cho chủ sở hữu

[9] Về phần dân sự: Ông H, ông K, ông T không yêu cầu gì về phần dân sự nên HĐXX không xét. Bà Bình yêu cầu bị cáo bồi thường 1.200.000 đồng , đây là số tiền thuộc quyền sở hữu của bà B mà bị cáo đã chiếm đoạt nên HĐXX buộc bị cáo phải bồi thường cho bà Bình là phù hợp.

[10] Về án phí, bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.

Phạt Nguyễn Văn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án.

Căn cứ: Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 357, 584, 585, 587, 589 Bộ luật hình sự:

Buộc bị cáo Nguyễn Văn H bồi thường cho bà Mang Thị B 1.200.000 đồng.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

*Căn cứ: khoản 2 điều 136 BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST và 300.000 đồng án phí DSST.

Án xử công khai, báo cho bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án hợp lệ tại địa phương.

5. Án có hiệu lực theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ