| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 24/2020/HS-ST Ngày: 19-6-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, T NH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Tấn Khoa;
Bà Nguyễn Thị Ly.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham
gia phiên tòa: Ông Tôn Văn Xuyên, Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ
Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số
24/2020/TLST-HS ngày 25 tháng 5 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số 20/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2020, đối với bị cáo: Nguyễn
Đoàn D, sinh năm 1974; tại huyện C, tỉnh An Giang;
Nơi cư trú: ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang;
Nghề nghiệp: không;
Trình độ văn hoá (học vấn): không biết chữ;
Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam;
Tôn giáo: Công Giáo;
Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Nguyễn Đắc N (đã chết) và bà Lưu Thị A;
Tiền án: không;
Tiền sự: 01 lần, ngày 10/5/2019, bị Công an huyện Chợ Mới, xử phạt vi
phạm hành chính 1.500.000đồng, về hành vi trộm cắp tài sản, chưa chấp hành xong.
Nhân thân: Từ nhỏ sống chung cha mẹ, không được đi học. Ngày
14/11/1997, bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xử phạt 04 năm tù, về tội “Hiếp dâm”, chấp hành xong ngày 16/01/2001. Ngày 21/8/2001, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, xử phạt 12 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 05/4/2002. Ngày 12/8/2002, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, xử phạt 24 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 07/5/2004. Ngày 03/3/2005, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, xử phạt 06 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 26/4/2010. Ngày 30/11/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, xử phạt 02 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 24/3/2013. Chấp xong án phí của các Bản án; riêng bồi thường dân sự, người được thi hành án không yêu cầu, Cơ quan thi hành án không thụ lý.
Bị tạm giữ, tạm giam ngày 25/3/2020 đến nay;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1) Ông Lê Phước T, sinh năm 2001; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh
An Giang; Có mặt;
2) Bà Đinh Thị Bạch T, sinh năm 1968; nơi cư trú: ấp T, thị trấn M, huyện
C, tỉnh An Giang; Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Huỳnh Văn A,
sinh năm 1980; nơi cư trú: ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; Vắng mặt.
- Người làm chứng:
1) Lưu Thị A, sinh năm 1935;
2) Lê Ngọc T, sinh năm 1978;
3) Huỳnh Văn M, sinh năm 1961;
4) Huỳnh Tấn P, sinh năm 1989.
NỘI DUNG V ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại
phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài, nên Nguyễn Đoàn D nảy sinh ý định tìm tài sản
lấy trộm. Khoảng 02 giờ ngày 24/3/2020, D chạy xe đạp đến khu vực ấp T, thị trấn M, huyện C, phát hiện nhà của Đinh Thị Bạch T đang xây dựng, quan sát T đang ngủ trong mùng trước nhà, bên cạnh T có 01 điện thoại di động Samsung J5 prime, màu vàng, nên D lén lấy trộm điện thoại cất giấu vào lưng quần phía trước, rồi chạy xe đạp đến quán cơm “Từ Tâm”, cách nhà T khoảng 150m, D đi
vào bên trong quán thấy Lê Phước T nằm ngủ trên ghế bố, có 02 điện thoại di
động Iphone 6 và Iphone 6S plus đang sạc pin để dưới nền gạch, D lén lấy trộm
02 điện thoại cất giấu vào túi quần bên trái, rồi chạy xe đạp về hướng thị trấn C.
Khi đến khu vực Di tích lịch sử Cột Dây Thép, D làm rơi điện thoại di động lấy
trộm của T, lúc này D thấy có lực lượng tuần tra gần đó, nên D không dừng để
tìm mà tiếp tục chạy xe đạp đi. Khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, D đến quán
cà phê “Thịnh” bán 02 điện thoại di động lấy trộm của T cho Huỳnh Văn A với
giá 1.000.000đồng. Sau hay tin sự việc lấy trộm tài sản bị phát hiện, khoảng 08
giờ ngày 25/3/2020 D đến Công an xã K đầu thú và giao nộp số tiền
1.000.000đồng.
Vật chứng: Thu giữ của bị cáo 01 (một) áo thun dài tay màu xanh; 01
(một) quần ngắn Jean màu xanh và Lê Phước T giao nộp 01 (một) USB nhãn
hiệu Kingston, màu đỏ-đen, loại dung lượng 8GB.
Theo Kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐG.TTHS ngày 31/3/2020
của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Chợ Mới: 01 điện
thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 (đã qua sử dụng), trị giá 1.000.000đồng; 01
điện thoại di động Iphone 6S plus (đã qua sử dụng), trị giá 3.500.000đồng; 01
điện thoại di động Samsung J5 prime (đã qua sử dụng), trị giá 1.300.000đồng.
Tổng trị giá tài sản là 5.800.000đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Chợ Mới ra Quyết định khởi
tố vụ án hình sự và Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Đoàn D về hành
vi “Trộm cắp tài sản”.
Tại bản cáo trạng số 24/CT-VKSCM ngày 25 tháng 5 năm 2020, Viện
kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới đã truy tố bị cáo Nguyễn Đoàn D về tội
“Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội
dung Cáo trạng truy tố, không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm
sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo
Nguyễn Đoàn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1,
khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm
2017, xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản;
không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; về dân sự người bị hại không
yêu cầu bồi thường nên không xem xét và về vật chứng đề nghị tiêu hủy 01 áo
thun; 01 quần Jean và 01 USB.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên,
Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã
thực hiện chiếm đoạt tài sản người bị hại. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại và những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác được lưu trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo Nguyễn Đoàn D đã thực hiện lén lút chiếm đoạt tài sản, theo kết quả định giá là 5.800.000đồng nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là hoàn toàn đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng về hành vi của bị cáo nhận thấy:
[3.1] Quyền sở hữu là một trong những quyền cơ bản của mỗi công dân
được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Để sở hữu được tài sản, người lao động phải trải qua quá trình lao động vất vả mới tạo lập được. Cho nên, những ai xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc là hình phạt.
[3.2] Bị cáo đang ở độ tuổi lao động, lẽ ra, phải r n luyện bản thân thành
một công dân có ích, tích cực lao động để tạo lập tài sản chính đáng cho bản thân nhưng chỉ vì hám lợi, lười lao động, muốn nhanh chóng có được tài sản mà không phải tốn công sức lao động nhiều nên bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác, xâm phạm trật tự quản lý của Nhà nước mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương; gây tâm lí hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến cuộc sống, tâm lí của người dân, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình
điều tra và tại phiên tòa hôm nay đã xác định được: bị cáo đã đầu thú, tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung, do bị cáo có thu nhập không ổn định nên không
áp dụng hình phạt bổ sung.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Lê Phước T, bà Đinh Thị Bạch T
không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Bị cáo Nguyễn Đoàn D lấy trộm điện thoại đem bán cho ông Huỳnh
Văn A, ông An mua 02 điện thoại do D bán, nhưng không biết tài sản là do
phạm tội mà có, nên Cơ quan điều tra không xử lý.
[8] Về xử lý vật chứng: 01 (một) áo thun; 01 (một) quần Jean của bị cáo,
là vật dùng để nhận dạng người phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tiêu
hủy; đối với 01 (một) USB nhãn hiệu Kingston là của người bị hại cung cấp
thông tin từ Camera ghi hình lại giao cho cơ quan tố tụng, tại phiên tòa người bị
hại không nhận lại mà yêu cầu đề nghị tiêu hủy.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
1. Căn cứ kho n 1 Điều 173, điểm s kho n 1, kho n 2 Điều 51, Điều 38
Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đoàn D phạm tội “Trộm cắp tài s n”;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đoàn D 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời
hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm
giam ngày 25/3/2020 (Ngày hai mươi lăm tháng ba năm hai nghìn không trăm
hai mươi).
2. Về dân sự: Bị hại ông Lê Phước T, bà Đinh Thị Bạch T không yêu cầu
bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c kho n 3, Điều 106 Bộ luật Tố tụng
hình sự; Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo thun dài tay màu xanh, trước ngực bên
trái và phía sau lưng áo có chữ “Cà phê Thịnh” màu trắng; 01 (một) quần ngắn
Jean màu xanh và 01 (một) USB nhãn hiệu Kingston, màu đỏ-đen, loại dung
lượng 8GB, trong USB có dữ liệu một tập tin video có phần mở rộng “mp4”,
thời lượng 2 phút 22 giây, dung lượng 7,94 MB được niêm phong trong phong
bì màu trắng, bên ngoài có ghi: vụ 51/KLGĐ –PC09 (KTSĐT), ngày 08/4/2020,
có chữ ký tên, chữ viết mang tên Nguyễn Phước Thịnh, Trần Minh Chiến và có
dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang. (Hiện vật
chứng do Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang quản lý
theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/6/2020).
4. Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về
mức thu, miễn, gi m, nộp, qu n lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị
cáo Nguyễn Đoàn D phải chịu 200.000đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng)
án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình
sự: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp b n án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người ph i thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện Chợ Mới; - VKSND tỉnh An Giang; - TAND tỉnh An Giang; - Sở Tư pháp; - Cơ quan Điều tra; - Nhà Tạm giữ; - Bộ phận THA Tòa án; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu văn phòng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Hùng |