vanban.org

Bản án 24/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 30/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Thành Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Phạm Thành Đ 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam 28/3/2020. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 3, Khoản 1 Điều 21, Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HS-ST - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Thành Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM XUYÊN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2020/HS-ST
Ngày: 30-6-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Chu Thành Vinh

Bà Phan Thị Mỹ Dung

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Hồng Khang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2020/TLST-HS ngày 26/5/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2020/QĐXXST-HS ngày 15/6/2020 đối với bị cáo:

* Họ và tên: Phạm Thành Đ, sinh ngày: 06 tháng 6 năm 1996, tại xã Thạch Đ, huyện Thạch H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: thôn Phúc Đ, xã Nam Đ, huyện Thạch H, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ văn hoá: Lớp 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Phạm Văn H, sinh năm 1970 và bà Võ Thị T, sinh năm 1975, trú tại thôn Phúc Đ, xã Nam Đ, huyện Thạch H, tỉnh Hà Tĩnh.

Tiền án: Bản án sơ thẩm số 23/2018/HSST, ngày 22/5/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh xử phạt Phạm Thành Đ 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt ngày 17/12/2018, chưa được xóa án tích. Ngày 27/8/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án sơ thẩm số 32/2019/HSST. Phạm Thành Đ chấp hành xong hình phạt ngày 29/02/2020, chưa được xóa án tích thì ngày 20/3/2020 tiếp tục phạm tội.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 22/6/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh ra Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng với thời gian 24 tháng, theo Quyết định số 01/2015/QĐ-TA, ngày 22/6/2015; Ngày 11/12/2017, bị Ủy ban nhân dân phường Hà Huy Tập, thành phố Hà Tĩnh xử phạt hành chính 2.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, theo Quyết định số186/QĐ-XPVPHC, ngày 11/12/2017; Ngày 01/02/2018, bị Công an thành phố Hà Tĩnh xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, theo Quyết định số 0006853/QĐ-XPVPHC, ngày 01/02/2018.

Bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh từ ngày 28/3/2020 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Chị Đặng Thị H, sinh năm 1978; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trú tại: Th«n 5, xã Cẩm Q, huyÖn CÈm X, tØnh Hµ TÜnh (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Võ Thị T, sinh năm 1975; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trú tại: Thôn Phúc Đ, xã Nam Đ, huyện Thạch H, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).

- Anh Phạm Văn H, sinh năm 1970; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trú tại: Thôn Phúc Đ, xã Nam Đ, huyện Thạch H, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).

- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1966; Nghề ngiệp: Buôn bán; Trú tại: Thôn Bắc T, xã Thạch Đ, huyện Thạch H, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).

* Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1990 (Vắng mặt).

Trú tại: Thôn Bắc T, xã Thạch Đ, huyện Thạch H, tỉnh Hà Tĩnh.

- Anh Phan Xuân B, sinh năm 1989 (Vắng mặt).

Trú tại: TDP 13, thị trấn Cẩm X, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh.

- Chị Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1979 (Vắng mặt).

Trú tại: Thôn Thắng H, xã Tân Lâm H, huyện Thạch H, tỉnh Hà Tĩnh.

- Chị Thái Thị H, sinh năm 1991 (Vắng mặt).

Trú tại: Thôn Hà B, xã Cẩm N, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 20/3/2020, Phạm Thành Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38M1-354.00 qua cửa hàng tạp hóa Huệ Minh của chị Đặng Thị H ở thôn 5, xã Cẩm Q, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh, Đ dựng xe mô tô ở ngoài đường, đi bộ vào cửa hàng mua thuốc lá hút. Khi vào cửa hàng thấy không có người trông coi, có một chiếc hộp bằng nhôm để ở ngăn trên cùng trong tủ kính đựng hàng tạp hóa. Đoán trong hộp nhôm có tài sản nên Phạm Thành Đ đã dùng tay luồn vào lấy chiếc hộp rồi điều khiển xe đi theo Quốc lộ 1A hướng vào Thị trấn Cẩm Xuyên. Đi được khoảng 03 Km, Đ quay đầu xe đi theo hướng ngược lại để đi về nhà. Trên đường về, Đ dừng xe bên đường, mở hộp nhôm ra kiểm tra thấy có tiền và thẻ cào điện thoại di động để trong chiếc hộp bằng nhựa nên lấy túi ni lông có sẵn trong chiếc hộp nhôm bỏ toàn bộ tài sản vào túi cất dấu dưới cốp xe, còn chiếc hộp nhôm và hộp nhựa vứt bên đường, sau đó về nhà. Đến khoảng 08 giờ sáng ngày 21/3/2020, Phạm Thành Đ lấy ra kiểm tra đếm được 3.600.000đồng tiền mặt và các thẻ cào điện thoại di động của các nhà mạng Mobiphone, Vinaphone, Viettel có tổng trị giá 1.740.000 đồng. Đến trưa cùng ngày, Đ lấy toàn bộ thẻ cào điện thoại di động đến cửa hàng tạp hóa của chị Nguyễn Thị T ở thôn Bắc T, xã Thạch Đ, huyện Thạch H, gặp chị T cùng với con trai Nguyễn Văn Đ đang bán hàng, Đ nói với chị T có một ít thẻ cào điện thoại muốn bán, chị T đồng ý mua, 27 thẻ của nhà mạng Mobiphone, mệnh giá mỗi thẻ 20.000 đồng; 01 thẻ Mobiphone mệnh giá 50.000 đồng; 02 thẻ Viettel, mệnh giá mỗi thẻ 100.000đồng; 03 thẻ Vinaphone, mệnh giá mỗi thẻ 100.000 đồng; 13 thẻ Viettel và Vinaphone, mệnh giá mỗi thẻ 50.000 đồng. Tổng cộng có 46 thẻ cào điện thoại di động các loại với tổng trị giá 1.740.000 đồng. Phạm Thành Đ thống nhất bán cho chị Nguyễn Thị Tâm với giá 1.500.000 đồng, khi mua chị T không biết tài sản do trộm cắp mà có. Sau đó, chị T đã bán cho khách qua đường 29 thẻ, còn lại 16 thẻ cào mệnh giá mỗi thẻ 20.000 đồng và 01 thẻ cào mệnh giá 50.000 đồng của nhà mạng Mobiphone, tổng trị giá 370.000 đồng, chị đã tự nguyện giao nộp. Số tiền mặt đã chiếm đoạt của chị Đặng Thị H cùng với số tiền bán thẻ cào điện thoại, Phạm Thành Đ đã tiêu xài cá nhân hết.

Kết luận định giá số 16/KL-HĐĐG ngày 20/4/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cẩm Xuyên kết luận: Chiếc hộp làm bằng nhôm và chiếc hộp nhựa, trị giá 30.000đồng.

Tài sản của chị Đặng Thị H, bị Phạm Thành Đ chiếm đoạt gồm: 3.600.000đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam đang lưu hành; 46 thẻ cào điện thoại di động của 03 nhà mạng Mobiphone, Viettel, Vinaphone có tổng trị giá 1.740.000 đồng; một chiếc hộp làm bằng nhôm và một chiếc hộp nhựa trị giá 30.000 đồng. Tổng cộng là: 5.370.000 đồng.

Chiếc xe mô tô, biển kiểm soát: 38M1-354.00 Phạm Thành Đ dùng để thực hiện hành vi phạm tội là của chị Võ Thị Tuyết (mẹ đẻ của Phạm Thành Đ).

* Về thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật; xử lý vật chứng:

Trong quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên đã thu giữ, xử lý các vật chứng bao gồm:

- Vật chứng thu giữ đã xử lý:

+ 16 thẻ cào điện thoại di động, mệnh giá mỗi thẻ 20.000đồng và 01 thẻ cào điện thoại mệnh giá 50.000đồng của nhà mạng Mobiphone, thu của Nguyễn Thị T. Nay đã trả lại cho chủ sở hữu Đặng Thị H.

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, màu đen, bạc, số khung 3910KY 443235, số máy JA39E1314330, biển kiểm soát 38M1-354...; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 032701, đối với xe mô tô biển kiểm soát 38M1-354… mang tên Võ Thị T, đã trả lại cho chủ sở hữu Võ Thị T.

* Vật chứng không thu giữ được: 01 chiếc hộp bằng nhôm và 01 chiếc hộp nhựa. Trên đường từ huyện Cẩm Xuyên về xã Thạch Điền, huyện Thạch Hà, Phạm Thành Đ đã vứt, không xác định được vị trí cụ thể, nên không thu hồi được.

* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên đã trả cho chị Đặng Thị H số thẻ cào thu giữ; Phạm Thành Đ đã tác động gia đình bồi thường cho chị H số tiền mặt và trị giá các thẻ cào đã chiếm đoạt, với số tiền 5.000.000đồng. Nay, chị Đặng Thị H không có yêu cầu gì thêm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị T không yêu cầu Phạm Thành Đ bồi thường giá trị thẻ cào điện thoại bị thu giữ.

Với hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số: 27/CT-VKSCX ngày 25/5/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên đã truy tố Phạm Thành Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Phạm Thành Đ mức án từ 09 đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam; buộc bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có tại hồ sơ đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy:

1] Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về hành vi phạm tội: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thành Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo là khách quan, phù hợp với Cáo trạng truy tố, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 20/3/2020, tại cửa hàng tạp hóa Huệ M của chị Đặng Thị H, thuộc địa phận thôn 5, xã Cẩm Q, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh, lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của chủ sở hữu, Phạm Thành Đ đã lén lút, chiếm đoạt của chị Đặng Thị H 3.600.000đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam; 46 thẻ cào điện thoại di động của các nhà mạng Viettel, Vinaphone, Mobiphone trị giá 1.740.000 đồng; 01 chiếc hộp nhôm đựng tiền và một chiếc hộp nhựa đựng thẻ cào điện thoại trị giá 30.000 đồng. Tổng giá trị tài sản, Phạm Thành Đ chiếm đoạt của chị Đặng Thị H là 5.370.000 đồng.

Hành vi trên của Phạm Thành Đ đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội danh và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, việc xét xử bị cáo về tội danh, điều luật như Cáo trạng đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây dư luận xấu trong nhân dân. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản rồi có hành vi lén lút chiếm đoạt, với tổng số tiền 5.370.000 đồng. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong điều kiện đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh, tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình; sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã tác động nhờ gia đình bồi thường đầy đủ theo yêu cầu của bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên tại phiên tòa.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Phạm Thành Đ bồi thường giá trị thẻ cào điện thoại bị thu giữ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã đã trả lại cho bị hại các thẻ cào thu giữ; trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, biển kiểm soát 38M1-354... và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 032701 cho chủ sở hữu Võ Thị T là có căn cứ.

Chị Nguyễn Thị Tâm là người tiêu thụ tài sản do Phạm Thành Đ trộm cắp mà có. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định chị Tâm không biết là tài sản do Đ phạm tội mà có nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Chị Võ Thị Tuyết là chủ sở hữu của chiếc xe mô tô biển kiểm soát 38M1-354.00 do Phạm Thành Đ sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra xác định việc Đ dùng xe thực hiện hành vi phạm tội, chị Tuyết không biết nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Khoản 1 Điều 173; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phạm Thành Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Phạm Thành Đ 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam 28/3/2020.

2. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 3, Khoản 1 Điều 21, Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Phạm Thành Đ phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ