- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Phi V - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phi V (V Cỏ) phạm tội: “Cố ý gây thương tích”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẾN TRE Bản án số: 24/2020/HS – ST Ngày: 24/7/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quang Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Thái Hùng.
2. Ông Đỗ Tấn Thọ.
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Nhân – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Bình Đại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Vĩnh Thái – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2020/TLST–HS ngày 14 tháng 4 năm 2020; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2020/QĐXXST– HS ngày 12 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2020/HSST-QĐ ngày 26 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Phi V (V Cỏ), sinh ngày: 18/9/1993; Nơi cư trú: ấp L, xã Đ, huyện H, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: V Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1973 (Đã chết) và bà Đoàn Thị G, sinh năm 1976; Có vợ là Đặng Thị N, sinh năm 1995 (Đã ly hôn), có 01 người con sinh năm 2017; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/10/2019. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
+ Bị hại:
Anh Trần Văn S, sinh năm: 1995 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp 6, xã L, huyện H, tỉnh Bến Tre.
+ Người làm chứng:
1. Anh Võ Văn U, sinh năm: 1996 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp 6, xã L, huyện H, tỉnh Bến Tre.
Trang 1
2. Anh Nguyễn Ngọc G, sinh năm: 1998 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp T, xã Đ, huyện H, tỉnh Bến Tre.
3. Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 2000 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp L, xã P, huyện K, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 16/8/2019, Nguyễn Phi V cùng với anh Trần Văn S (M), sinh năm 1995, Nơi cư trú: ấp 6, xã L, huyện H, tỉnh Bến Tre; anh Võ Văn U (bạn của anh S) và một số người bạn khác dự tiệc sinh nhật tại nhà của chị Nguyễn Thị L ở ấp T, xã Đ, huyện H, tỉnh Bến Tre. Trong lúc ngồi chung bàn uống bia, V và anh U phát sinh mâu thuẫn cự cãi nên V dùng khuỷu tay phải hất vào mặt của anh U. Anh S thấy vậy dùng tay phải đánh vào đầu của Việt. V dùng tay trái đánh lại anh Sang, rồi anh U và anh S cùng đánh nhau với V trên con lộ đan trước nhà chị Loan. Sau đó, V bỏ chạy qua nhà của bà Đặng Thị Mai L cách đó 17,7 m thì bị anh S và anh U chạy đuổi theo. Khi vào đến nhà, anh S và anh U đứng trên thềm ba nhà. V đứng bên hông nhà, cách anh S 1,60 m và nói: “Mày mà bước vào nữa là tao bắn”. V lấy từ trong túi quần phía trước bên phải 01 ống kim loại màu vàng dài 11,4 cm cầm trên hai tay, tay trái cầm thân ống kim loại, tay phải kéo mạnh lò xo ra sau, bắn 01 phát trúng vào hông trái của anh S rồi đi về nhà, còn anh S được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy tại Thành phố Hồ Chí Minh để phẫu thuật lấy đầu đạn ra.
Sau khi vụ án xảy ra, V bỏ trốn khỏi địa phương nơi cư trú, đến ngày 14/10/2019, ra đầu thú tại Cơ quan điều tra và tự nguyện giao nộp lại ống kim loại màu vàng đã sử dụng bắn anh S.
Bản Kết luận giám định số: 4401/C09B ngày 16/10/2019 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận đầu đạn thuộc loại đạn cỡ 5,6 mm x 15 mm, sử dụng cho loại súng bút, sử dụng súng phù hợp bắn loại đạn này vào bụng của nạn nhân có khả năng gây chết người.
Bản Kết luận giám định số: 4903/C09B ngày 15/11/2019 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận ống kim loại là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng, thuộc loại súng bút, không phải là vũ khí quân dụng. Súng bút này sử dụng loại đạn thể thao cỡ 5,6 mm x 16 mm. Không đủ cơ sở xác định khẩu súng bút này có bắn ra hay không đầu đạn gửi giám định. Với khoảng cách 1,60 m; khi sử dụng khẩu súng bút trên bắn vào vùng hông trái của người có thể gây tử vong.
Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 246-919/TgT ngày 27/9/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Bến Tre kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Trần Văn S là 24% với thương tích như sau: Vết thương vùng hông trái dài khoảng 01 cm, bờ sắc, gọn, không gây tổn thương các cơ quan trong ổ bụng. CT
Trang 2
Scanner bụng - chậu: có dị vật kim loại vùng hông trái có bóng khí ở trong phúc mạc; dị vật kim loại nằm ở thành bụng ngoài phúc mạc, phẫu thuật rạch da vị trí hông trái phẫu tích lấy dị vật kim loại kích thước 0,5 cm × 0,5 cm. Vết thương lành sẹo kích thước 3,5 cm x 0,3 cm. Cơ chế hình thành vết thương là do hỏa khí gây ra.
Bị cáo V đã bồi thường cho anh S số tiền 20.000.000 đồng, anh S không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Bản cáo trạng số: 22/CT–VKSBĐ ngày 14 tháng 4 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại truy tố bị cáo Nguyễn Phi V về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a khoản 1) Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên Tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Phi V đã khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 16/8/2019, tại nhà bà Đặng Thị Mai L, thuộc ấp T, xã Đ, huyện Bình Đại, do có mâu thuẫn cự cải trong lúc uống bia và xảy ra đánh nhau giữa Nguyễn Phi V với anh Trần Văn S và anh Võ Anh U, V đã sử dụng khẩu súng bút là vũ khí nguy hiểm bắn 01 phát trúng vào vùng hông trái của anh S gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 24%. Hành vi của bị cáo Nguyễn Phi V có đủ yếu tố cấu thành tội: “Cố ý gây thương tích”. Dó đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Phi V về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a khoản 1) Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo; đánh giá nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Phi V có mức án từ 02 năm đến 03 năm tù.
Về vật chứng, xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu 01 ống kim loại màu vàng dài 11,4cm, đường kính tiết diện 1,2cm, bên trong có 01 thanh kim loại gắn liền với 01 lò xo (loại súng bút); 01 đầu đạn bằng kim loại dài 01 cm, hình tam giác. Đề nghị giao các vật chứng này cho Công an huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre (Đội Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội) để xử lý theo quy định pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho anh Trần Văn S 20.000.000 đồng, anh Trần Văn S không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị ghi nhận.
Bị cáo Nguyễn Phi V tự bào chữa: Nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại truy tố bị cáo Nguyễn Phi V về tội: “Cố ý gây thương tích”, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mức thấp nhất.
Trang 3
Bị hại là anh Trần Văn S có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mức thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Đại, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; bị hại; người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Phi V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng với các tình tiết của vụ án. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những chứng cứ trực tiếp như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, bản ảnh thực nghiệm điều tra, bản kết luận giám định pháp y về thương tích của bị hại..... Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Đã đủ cơ sở kết luận rằng: Khoảng 12 giờ ngày 16/8/2019, tại nhà bà Đặng Thị Mai L, thuộc ấp T, xã Đ, huyện Bình Đại, do có mâu thuẫn cự cải trong lúc uống bia và xảy ra đánh nhau giữa bị cáo Nguyễn Phi V với anh Trần Văn S và anh Võ Anh U, bị cáo Nguyễn Phi V đã sử dụng khẩu súng bút là vũ khí nguy hiểm bắn 01 phát trúng vào vùng hông trái của anh Trần Văn S gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 24%.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Phi V có đủ yếu tố cấu thành tội: “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a khoản 1) Điều 134 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại đã truy tố bị cáo Nguyễn Phi V là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo.
Bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây dư luận xấu trong nhân dân. Bị cáo phạm tội với ý thức, mục đích chỉ gây thương tích cho bị hại cho nên hậu quả xảy ra đến đâu thì bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đến đó. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và thấy trước hậu quả nhưng vẫn cố ý phạm tội, vì vậy cần áp dụng một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
Trang 4
Về nhân thân của bị cáo: Ngoài lần phạm tội này, bị cáo không có tiền án, tiền sự nên được coi là nhân thân tốt.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngoài tình tiết định tội, định khung hình phạt, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội, bị cáo đã ra đầu thú; bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có ông ngoại là người có công với cách mạng. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo; hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy, đối với bị cáo cần phải cách ly ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định nhằm để trừng trị và giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa. Mặt khác còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
. Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Tịch thu 01 ống kim loại màu vàng dài 11,4cm, đường kính tiết diện 1,2cm, bên trong có 01 thanh kim loại gắn liền với 01 lò xo (loại súng bút); 01 đầu đạn bằng kim loại dài 01 cm, hình tam giác. Các vật chứng này cần được giao cho Công an huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre (Đội Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội) để xử lý theo quy định pháp luật. Đây là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội.
. Về trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho anh Trần Văn S 20.000.000 đồng, anh Trần Văn S không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
. Luận tội và tranh luận của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử kết án bị cáo Nguyễn Phi V về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a khoản 1) Điều 134 của Bộ luật hình sự; đề nghị hình phạt; xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
. Đối với anh Trần Văn S và anh Võ Anh U có hành vi đánh nhau xâm hại đến sức khỏe của người khác nên Công an huyện Bình Đại đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền mỗi người 500.000 đồng là đúng với quy định của Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình.
. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Phi V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Trang 5
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phi V (V Cỏ) phạm tội: “Cố ý gây thương tích”
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phi V 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/10/2019.
2. Về vật chứng, xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu 01 ống kim loại màu vàng dài 11,4cm, đường kính tiết diện 1,2cm, bên trong có 01 thanh kim loại gắn liền với 01 lò xo (loại súng bút); 01 đầu đạn bằng kim loại dài 01 cm, hình tam giác. Giao các vật chứng này cho Công an huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre (Đội Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội) để xử lý theo quy định pháp luật. Đây là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Đại và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại ngày 22/4/2020).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Phi V phải chịu: 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại là anh Trần Văn S vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - VKSND huyện Bình Đại; - VKSND tỉnh Bến Tre; - Công an huyện Bình Đại; - Chi cục THADS huyện Bình Đại; - Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre (P.KTNV&THA); - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre; - Lưu hồ sơ vụ án. Trang 6 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã lý) Phạm Quang Hải |