vanban.org

Bản án 24/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Tuyết T đối với anh Nguyễn Minh B. Chị Lê Thị Tuyết T được ly hôn anh Nguyễn Minh B.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trúc Q, sinh ngày 05-8-2012 cho chị Lê Thị Tuyết T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị T không yêu cầu, anh B không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lê Thị Tuyết T "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" Nguyễn Minh B"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Tuyết T đối với anh Nguyễn Minh B. Chị Lê Thị Tuyết T được ly hôn anh Nguyễn Minh B.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 28-5-2020
V/v: “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Đình Nhung;

2. Ông Cao Hoài Hiêm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Liêm là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Lớn - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 775/2019/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2019 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Tuyết T, sinh năm 1986; địa chỉ: Khu phố L, phường A, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Minh B, sinh năm 1984; địa chỉ: Khu phố C, phường D, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn, chị Lê Thị Tuyết T trình bày: Chị và anh Nguyễn Minh B qua một thời gian tìm hiểu hơn 01 năm thì tiến đến hôn nhân cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh vào tháng 10 năm 2011. Sau khi kết hôn chị và anh B cất nhà ra ở riêng tại khu phố C, phường D. Chị và anh Nguyễn Minh B sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do chị và anh B tính tình không hợp nhau. Hiện nay chị và anh B đã sống ly thân, trong quá trình sống ly thân chị và anh B, không có đặt vấn đề để hàn gắn đoàn tụ. Nay chị thấy đời sống hôn nhân với anh B không thể kéo dài mục đích hôn không thể đạt được. Thời gian chung sống vợ chồng, chị và anh B có một con chung tên Nguyễn Trúc Q, sinh ngày 05-8-2012, hiện nay cháu Q đang sống với chị. Về tài sản chung không có. Về nợ chung chị và anh B không có thiếu nợ ai, cũng như không ai thiếu nợ chị và anh B.

Nay chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Minh B. Khi ly hôn: Chị yêu cầu được nuôi con tên Nguyễn Trúc Q, sinh ngày 05-8-2012, chị không yêu cầu B cấp dưỡng nuôi con, vì đủ khả năng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Minh B trình bày: Anh thừa nhận lời trình bày của chị T là đúng về quan hệ hôn nhân, thời gian sống ly thân, về con chung, tài sản chung, nợ chung. Về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn anh và chị T không có mâu thuẫn gì. Nay anh yêu cầu được đoàn tụ với chị T. Trường hợp Tòa án cho anh và chị T ly hôn, anh yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung không yêu cầu Tòa án quyết. Về nợ chung không có.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị Trảng Bàng.

1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Thẩm phán chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn; Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

2. Việc giải quyết vụ án: Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; đề nghị Hội đồng xét xử quyết định:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Tuyết T đối với anh Nguyễn Minh B. Chị T được ly hôn anh B.

Về con chung: Giao chị T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Trúc Q, sinh ngày 05-8-2012. Ghi nhận chị T không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có tranh chấp, nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Buộc chị Lê Thị Tuyết T phải chịu án phí sự sơ thẩm về hôn nhân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, Tòa án nhận định:

Về tố tụng:

Chị Lê Thị Tuyết T khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với anh Nguyễn Minh B. Tòa án thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Anh Nguyễn Minh B vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Chị T và anh Nguyễn Minh B qua một thời gian tìm hiểu hơn 01 năm thì tiến đến hôn nhân cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh vào tháng 10 năm 2011. Sau khi kết hôn chị T và anh B cất nhà ra ở riêng tại khu phố C, phường D. Chị T và anh Nguyễn Minh B sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do chị T và anh B tính tình không hợp nhau. Hiện nay chị T và anh B đã sống ly thân, trong quá trình sống ly thân chị T và anh B, không có đặt vấn đề để hàn gắn để đoàn tụ. Chị T nhận thấy đời sống hôn nhân với anh B không thể kéo dài mục đích hôn không thể đạt được. Nay chị T yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Minh B.

Nguyện vọng của anh B yêu cầu được đoàn tụ với chị T, mà có đơn đề nghị vắng mặt không đến Tòa án tham gia các phiên tố tụng. Nhận thấy thiện chí hàn gắn của anh B đối với chị T không có. Do đó, yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Tuyết T được ly hôn với anh Nguyễn Minh B là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Thời gian chung sống vợ chồng, chị và anh B có một con chung tên Nguyễn Trúc Q, sinh ngày 05-8-2012, hiện nay cháu Q đang sống với chị T. Do đó, để tạo điều kiện và đảm bảo cho sự phát triển tâm sinh lý của cháu Q, cần giao cháu Q cho chị T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận chị T không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với Điều 81 và Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh Nguyễn Minh B khai không có nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị Lê Thị Tuyết T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/NQ/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Tuyết T đối với anh Nguyễn Minh B. Chị Lê Thị Tuyết T được ly hôn anh Nguyễn Minh B.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trúc Q, sinh ngày 05-8-2012 cho chị Lê Thị Tuyết T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị T không yêu cầu, anh B không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Anh B và chị T khai không có nên không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Chị Lê Thị Tuyết T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, tranh chấp nuôi con. Nhưng khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà chị T đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0017798 ngày 23 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; chị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Báo cho chị Lê Thị Tuyết T biết được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Minh B vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ