vanban.org

Bản án 24/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Hồ Thị M.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Bảo K (giới tính: Nữ) - sinh ngày 02/9/2011 và cháu Nguyễn Hồ Gia H (giới tính: Nam) - sinh ngày: 06/12/2015 cho chị Hồ Thị M tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung tròn 18 tuổi, anh Nguy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ Hôn nhân M-T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Hồ Thị M.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY SƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 14/9/2020
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Minh Trí.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ngô Văn Nghị

2. Ông Bùi Đức Thuận

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Khánh Phước – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hồng – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 178/2020/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2020/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2020/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị M - Sinh năm: 1990

HKTT: 133 BTX, thị trấn PP, huyện TS, tỉnh Bình Định.

Địa chỉ: Thôn NT, xã ĐTL, huyện MY, tỉnh Gia Lai.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Việt T - Sinh năm: 1981

Địa chỉ: 133 BTX, thị trấn PP, huyện TS, tỉnh Bình Định

Chị M có mặt tại phiên tòa, anh T vắng mặt lần 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hồ Thị M trình bày: Chị và anh Nguyễn Việt T tự quen biết tìm hiểu nhau, không ai mai mối và đăng ký kết hôn tại UBND xã ĐTL, huyện MY, tỉnh Gia Lai vào ngày 01/7/2011. Sau cưới vợ chồng chung sống tại nhà anh T ở số nhà 133 BTX, thị trấn PP, huyện TS, tỉnh Bình Định. Thời gian chung sống với nhau anh T thường xuyên đánh đập chị, đến tháng 3/2015 anh T bị đi tù, chấp hành xong án tù tháng 3/2019 về địa phương, nhưng anh T vẫn không thay đổi, đánh đập chị và thường xuyên ăn nhậu nên chị dẫn con về nhà cha mẹ chị ở xã ĐTL, huyện MY, tỉnh Gia Lai sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Việt T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Bảo K (giới tính: Nữ) - sinh ngày 02/9/2011; Nguyễn Hồ Gia H (giới tính: Nam) - sinh ngày: 06/12/2015, các con lâu nay ở với chị. Ly hôn cháu K có nguyện vọng ở với chị nên chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con đến trưởng thành, hiện nay chị đang có công việc và thu nhập ổn định đảm bảo khả năng nuôi con nên không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Việt T vắng mặt không có lý do:

Về các thủ tục về giải quyết ly hôn đã được Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn đã triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc về việc chị M xin ly hôn, nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do và không có văn bản hoặc quan điểm gửi Tòa án, vì vậy Tòa án không biết quan điểm anh T về những nội dung chị M yêu cầu Tòa án giải quyết, đồng thời Tòa án cũng không tiến hành hòa giải được, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn phát biểu việc tuân thủ pháp luật về tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm xét xử sơ thẩm. Tại phiên tòa sơ thẩm Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố dụng dân sự 2015. Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015.

- Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị: Căn cứ Điều 147, Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015. Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị M, cho chị M được ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Bảo K (giới tính: Nữ) - sinh ngày 02/9/2011 và Nguyễn Hồ Gia H (giới tính: Nam) - sinh ngày: 06/12/2015 cho chị M nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị M không yêu cầu. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Hồ Thị M có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn giải quyết vụ án hôn nhân vì anh Nguyễn Văn T có nơi cư trú tại thị trấn PP, huyện TS, tỉnh Bình Định. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn.

Về sự vắng mặt của bị đơn. Anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ đến lần hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa và không có lý do, căn cứ quy định tại các điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Tiến.

Về nội dung giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị M và anh Nguyễn Việt T kết hôn vào ngày 01/7/2011 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký chứng nhận kết hôn tại UBND xã ĐTL, huyện MY, tỉnh Gia Lai nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau cưới vợ chồng chung sống với nhau tại nhà anh T ở số nhà 133 BTX, thị trấn PP, huyện TS, tỉnh Bình Định, trong quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân như chị M trình bày chị và anh T có quan điểm sống không hợp nhau, tháng 3/2019 vợ chồng mâu thuẫn gay gắt không thể chung sống với nhau được nên chị dẫn con về Gia lai sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Chị M xác định không còn tình cảm với anh T nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Việt T.

Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn đã tiến hành xác minh thu thập chứng cứ, tại biên bản xác minh ngày 28/5/2020 của UBND thị trấn Phú Phong thể hiện nội dung tình trạng hôn nhân, con chung của chị M và anh T đúng như chị M đã trình bày. Hội đồng xét xử thấy tình trạng hôn nhân giữa chị M và anh T không còn tồn tại, mỗi người sống mỗi nơi, không ai quan tâm đến ai. Việc anh T không đến Tòa án làm việc, không có quan điểm gửi đến Tòa án chứng tỏ anh T không có trách nhiệm với hôn nhân của chính mình. Tình trạng hôn nhân giữa chị M và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị M.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Bảo K (giới tính: Nữ) - sinh ngày 02/9/2011 và Nguyễn Hồ Gia H (giới tính: Nam) - sinh ngày: 06/12/2015, các con lâu nay do chị M chăm sóc nuôi dưỡng, khi ly hôn chị M yêu cầu được nuôi dưỡng các con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, chị M đảm bảo điều kiện nuôi con có bản xác nhận lương của Công ty TNHH TM DV công nghệ Tân Phát. Xét yêu cầu được nuôi con của chị M. Hội đồng xét xử thấy rằng: Cháu K có nguyện vọng ở với chị M và cháu H đang được chị M là người trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không quan tâm, không có trách nhiệm gì với các con. Vì vậy giao các con chung Nguyễn Ngọc Bảo K và Nguyễn Hồ Gia H cho chị M nuôi dưỡng là phù hợp, chị M nhận trách nhiệm nuôi các con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của chị M nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị M không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xét.

[3] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, và khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Hồ Thị M phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006720 ngày 02/6/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn (đã nộp xong).

Lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Hồ Thị M.

2. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

3. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Bảo K (giới tính: Nữ) - sinh ngày 02/9/2011 và cháu Nguyễn Hồ Gia H (giới tính: Nam) - sinh ngày: 06/12/2015 cho chị Hồ Thị M tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung tròn 18 tuổi, anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con, vì chị M không yêu cầu.

Anh T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng nếu lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Chị M không yêu cầu, nên không xét.

5. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Hồ Thị M phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006720 ngày 02/6/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định (Đã nộp xong).

6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14/9/2020), bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ