vanban.org

Bản án 24/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức th…

Về hôn nhân: Bà Lâm Ngọc Q được ly hôn với ông Dương Văn Đ. Về nuôi con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lâm Ngọc Q - Dương Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? 39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức th…
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 24/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 21-8-2020
Về việc “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Vương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Tăng Gô;

2. Ông Nguyễn Văn Tư.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện H, tỉnh Long An.

Ngày 21 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ

thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 66/2020/TLST-HNGĐ ngày

03 tháng 3 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét

xử số: 25/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lâm Ngọc Q - Sinh năm 1973 - Địa chỉ: Ấp 6, xã MQĐ,

huyện H, tỉnh Long An (Vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Dương Văn Đ - Sinh năm 1971 - Địa chỉ: Ấp 6, xã MQĐ,

huyện H, tỉnh Long An (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 24 tháng 02 năm 2020, các văn bản tiếp theo,

nguyên đơn bà Lâm Ngọc Q trình bày và yêu cầu: Bà và ông Dương Văn Đ cưới

nhau năm 1992 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã MQĐ ngày 13-01-2014;

Chung sống đến năm 2010 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc

sống, vợ chồng thường cãi nhau, mặc dù bà tìm nhiều cách hàn gắn mâu thuẫn

nhưng không có kết quả, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn; Ông bà vẫn còn

sống chung nhà.

Về hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông Dương Văn Đ;

Về con chung: Có 02 con chung là Dương Văn L, sinh ngày 12-11-1995 và

Dương Ngọc G, sinh ngày 01-12-2013, hiện đang sống với ông bà. Con chung tên L đã thành niên không yêu cầu giải quyết. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên G, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vụ án không tiến hành hòa giải được do bị đơn là ông Dương Văn Đ đã được

Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt.

- Ngày 06-8-2020, bà Lâm Ngọc Q có đơn xin xét xử vắng mặt;

- Bị đơn là ông Dương Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý

do, nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Lâm Ngọc Q khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Dương Văn Đ, Tòa án

nhân dân huyện H tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà Q có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử xét đơn khởi kiện của

bà Q theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Trong thời gian Tòa án thụ lý vụ án, bị đơn là ông Dương Văn Đ được

tống đạt, niêm yết hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án, nhưng không có ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của ông, không có mặt để tham gia hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử xét đơn khởi kiện của bà Q theo quy định tại khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, ông Đ không được quyền khiếu nại về việc cung cấp chứng cứ, tham gia hòa giải và tham gia phiên tòa, vì ông không có mặt theo thông báo và giấy triệu tập của Tòa án, không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, nguyên đơn không có đơn rút yêu cầu khởi kiện, các đương

sự không thỏa thuận được với nhau việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.

Xét về hôn nhân:

Bà Q và ông Đ chung sống có đăng ký kết hôn ngày 13-01-2014 tại Ủy

ban nhân dân xã MQĐ, huyện H, tỉnh Long An. Quan hệ hôn nhân giữa bà Q và ông Đ là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu ly hôn của bà Q: Bà Q không đưa ra được tài liệu, chứng

cứ chứng minh trình bày và yêu cầu của bà là có căn cứ và hợp pháp. Tuy nhiên,

xét bà Q và ông Đ xảy ra mâu thuẫn từ năm 2010 đến nay (theo trình bày của bà

Q), hiện bà Q và ông Đ sống chung nhà nhưng vẫn tự mỗi người lo cho bản thân,

không quan tâm chăm sóc nhau. Mâu thuẫn giữa bà Q và ông Đ đã trầm trọng, cuộc

sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc bà Q yêu

cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại điều 56 Luật Hôn nhân gia đình

năm 2014 nên chấp nhận. Ông Đ không có ý kiến nên không có căn cứ xem xét.

Về nuôi con chung:

Bà Q và ông Đ có 02 con chung là Dương Văn L, sinh ngày 12-11-1995

và Dương Ngọc G, sinh ngày 01-12-2013, hiện đang sống chung với bà Q và ông Đ.

Con chung tên L đã thành niên, bà Q không yêu cầu giải quyết là phù hợp

theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Bà Q yêu cầu trực tiếp nuôi con chung tên G. Bà Q không đưa ra được

tài liệu, chứng cứ chứng minh trình bày và yêu cầu của bà là có căn cứ và hợp

pháp. Tuy nhiên xét con chung tên G còn nhỏ, giới tính nữ, sống chung bà Q từ

trước đến nay, giao cho bà Q trực tiếp nuôi là phù hợp theo quy định tại Điều 81

Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Xét con chung tên G đang sống chung với bà Q ông Đ, nên ông Đ có

nghĩa vụ giao con chung tên G cho bà Q trực tiếp nuôi kể từ khi án có hiệu lực

pháp luật là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Ông Đ không có ý kiến về việc nuôi con chung nên không có căn cứ

xem xét.

Xét bà Q không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện, phù

hợp quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên ghi nhận.

Ông Đ được quyền thăm nom, chăm sóc con chung; Khi cần thiết, vì

lợi ích của con chung, bà Q và ông Đ được quyền yêu cầu thay đổi trình trạng nuôi

con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp theo quy định tại các Điều

83, 84, 107 và 110 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về chia tài sản chung và nợ chung: Bà Q trình bày không có, không yêu

cầu Tòa án giải quyết, ông Đ không có ý kiến, nên không đề cập giải quyết; Nếu xảy

ra tranh chấp, đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định của

pháp luật tố tụng dân sự.

Về án phí, căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xét

thấy: Bà Q là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền án

phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp, bà Q đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm; Ông Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều

39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Bà Lâm Ngọc Q được ly hôn với ông Dương Văn Đ.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Con chung là Dương Văn L, sinh ngày 12-11-1995, đã thành niên, không

có yêu cầu, không đề cập giải quyết.

2.2. Bà Lâm Ngọc Q được trực tiếp nuôi con chung tên Dương Ngọc G, sinh

ngày 01-12-2013, hiện đang sống chung với bà Q và ông Dương Văn Đ. Ông Đ có nghĩa vụ giao con chung Dương Ngọc G cho bà Q trực tiếp nuôi kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.

2.3. Ghi nhận sự tự nguyện của đương sự: Ông Dương Văn Đ không phải cấp

dưỡng nuôi con chung Dương Ngọc G.

2.4. Ông Đ được quyền thăm nom, chăm sóc con chung; Khi cần thiết, vì lợi

ích của con chung, bà Q và ông Đ được quyền yêu cầu thay đổi trình trạng nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

3. Về chia tài sản chung và nợ chung: Đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ

án khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

4. Về án phí: Bà Lâm Ngọc Q phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)

án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0004963 ngày 18-02-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, bà Q đã nộp đủ án phí.

5. Các đương sự vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc

thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành

án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành

án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi

hành án dân sự.

Cỡ chữ