- Tranh chấp gì? Tranh chấp về cấp dưỡng — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thị H - Nguyễn Văn T - Tranh chấp cấp dưỡng nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2020/HNGĐ-ST Ngày: 16/7/2020 V/v: Tranh chấp cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Đình Công
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Sách
Bà Phan Thị Nhụ
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Thứ – Thư ký TAND huyện Quế Võ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Kim Phụng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Võ xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 170/2020/TLST-HNGĐ ngày 25/5/2020 về việc “Tranh chấp cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 32/2020/QĐXXST - HNGĐ ngày 01/7/2020, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phan Thị H, sinh năm 1995 (có mặt).
Bị đơn: Anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Đều trú tại: Thôn Vũ Dương, xã Bồng Lai, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Phan Thị H trình bày:
Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 74/2020/QĐST - HNGĐ ngày 07/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện Quế Võ đã công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị và anh Nguyễn Đình T, đồng thời anh chị đã thống nhất giao con chung là Nguyễn Thị Thu Ng, sinh ngày 27/01/2018 cho chị nuôi dưỡng (Ngoài ra anh chị không có con chung nào khác). Nhưng khi đó, hai bên đều chưa yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con. Nay chị yêu cầu Tòa án buộc anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là Nguyễn Thị Thu Ng cho chị với mức cấp dưỡng là 3.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 7/2020 đến khi cháu Ng đủ 18 tuổi. Tại phiên tòa, chị H giữ nguyên mức cấp dưỡng và thời gian cấp dưỡng thì tính từ tháng 8/2020 đến khi cháu Ng đủ 18 tuổi.
Ngoài ra, tại phiên tòa: Chị H trình bày bản thân hiện tại đang làm công nhân, thu nhập hàng tháng từ 7.000.000 đồng - 8.000.000 đồng, còn đối với anh T thì chị không biết hiện tại anh T thu nhập thế nào. Hiện tại chi phí nuôi dưỡng cháu Ng khoảng từ 2.500.000 đồng – 3.000.000 đồng.
* Bị đơn là anh Nguyễn Đình T vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại bản tự khai, biên bản hoà giải, đơn đề nghị, anh T trình bày: Nội dung chị H trình bày về việc ly hôn, con chung và nuôi con chung nêu trên là đúng. Tuy nhiên, anh mới nghỉ việc ở Công ty Bujeon ở Khu Công nghiệp Quế Võ I, hiện tại đang làm việc tự do, không có nghề nghiệp ổn định, chính thức, thu nhập hiện tại của anh khoảng từ 5.000.000 đồng - 6.000.000 đồng, chỉ đủ chi tiêu cho sinh hoạt cá nhân. Ngoài ra, anh không còn nguồn thu nhập nào khác. Vì vậy, anh không chấp nhận cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Ng cho chị H với mức cấp dưỡng 3.000.000 đồng/tháng theo yêu cầu của chị H. Anh đề nghị Toà án xác định mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ phát biểu ý kiến:
- Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đều đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
- Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX:
Áp dụng các điều 82, 107, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
Chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn của chị H đối với anh T. Buộc anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Nguyễn Thị Thu Ng, sinh ngày 27/01/2018 cho chị Phan Thị H với mức cấp dưỡng mỗi tháng là từ 1.200.000 đồng đến 1.700.000 đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 8/2020 đến khi cháu Ng đủ 18 tuổi; anh T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về thủ tục tố tụng:
Chị Phan Thị H khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Đình T trú tại thôn Vũ Dương, xã Bồng Lai, huyện Quế Võ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn cho chị H. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án này là “Tranh chấp cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn” và Toà án nhân dân huyện Quế Võ có thẩm quyết giải quyết theo thủ tục sơ thẩm vụ án này.
Bị đơn là anh Nguyễn Đình T vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án T hành xét xử vắng mặt anh T.
Về nội dung vụ án:
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn: Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 74/2020/QĐST - HNGĐ ngày 07/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện Quế Võ đã công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phan Thị H và anh Nguyễn Đình T, đồng thời anh chị đã thống nhất giao con chung duy nhất là Nguyễn Thị Thu Ng, sinh ngày 27/01/2018 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Như vậy, anh T là người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung, theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình thì anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Ng cho chị H.
Về mức cấp dưỡng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã T hành xác minh tại địa phương thì xác định được chi phí để nuôi dưỡng một cháu nhỏ bình thường như cháu Ng ở địa phương hiện nay khoảng 2.000.000 đồng/tháng nên mức chi phí nuôi dưỡng cháu Ng khoảng từ 2.500.000 đồng – 3.000.000 đồng một tháng mà chị H trình bày tại phiên tòa hôm nay là không quá cao so với mức trung bình của địa phương, có thể chấp nhận được. Mặt khác, hiện tại thu nhập của anh T khoảng từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng một tháng, còn chị H thu nhập khoảng từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng một tháng. Vì vậy để đảm bảo việc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Thu Ng, đảm bảo việc sinh sống của chị H và anh T, HĐXX thấy cần buộc anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn cho chị H với mức cấp dưỡng là 1.500.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 8/2020 đến khi cháu Ng đủ 18 tuổi.
Về án phí: Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các điều 69, 81, 82, 107, 110, 116, 117, 119 Luật hôn nhân và gia đình; các điều 147, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị H.
Buộc anh Nguyễn Đình T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn là cháu Nguyễn Thị Thu Ng, sinh này 27/01/2018 cho chị Phan Thị H, với mức cấp dưỡng là 1.500.000đồng/01 tháng (Một triệu năm trăm nghìn đồng một tháng), thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 8 năm 2020 đến khi cháu Ng đủ 18 tuổi.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo mức quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án phí: Anh Nguyễn Đình T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại chị Phan Thị H 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0001014 ngày 25/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Võ.
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Quế Võ; - Chi cục THADS huyện Quế Võ; - Đương sự; - Lưu hs. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Đình Công |