vanban.org

Bản án 24/2020/DSST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Thùy L: Buộc ông Trần Văn N, bà Đinh Thị L phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà Võ Thị Thùy L, ông Nuyễn Văn Đ số tiền nợ hụi là 192.000.000đ (Một trăm chín mươi hai triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Bà Võ Thị Thùy L khởi kiện yêu cầu ông N trả tiền nợ hụi"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÁNH L
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2020/DSST.
Ngày: 10/8/2020.
V/v: “Tranh chấp về nợ hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH L

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến.

Các hội thẩm nhân dân :

1. Ông Lưu Xuân Vĩnh.

2. Bà Phạm Thị Nc Hữu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tánh L.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh L tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 8 năm 2020, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Tánh L; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 195/2020/TLST - DS ngày 22/5/2020; về việc “Tranh chấp về nợ hụi”; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2020/QĐST – DS, ngày 24 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thùy L, sinh năm 1981; Địa chỉ: Thôn 7, xã M, huyện Tánh L, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Trần Văn N, sinh năm 1955; Địa chỉ: Thôn 7, xã M, huyện Tánh L, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bà Đinh Thị L, sinh năm 1968; Địa chỉ: Thôn 7, xã M, huyện Tánh L, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

3. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn 7, xã M, huyện Tánh L, tỉnh Bình Thuận đã ủy quyền cho bà Võ Thị Thùy L.

Người bảo vệ quyền và lợi ích của nguyên đơn: Ông Nguyễn Quốc Phòng – Luật sư thuộc Văn phòng luật sư Quốc Phòng – Đoàn luật sư tỉnh Bình Thuận: Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1] Thể hiện tại đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa - Nguyên đơn - bà Võ Thị Thùy L trình bày:

Vào khoảng năm 2018, 2019 bà Võ Thị Thùy L tham gia chơi hụi do ông Trần Văn N, bà Đinh Thị L làm chủ. Bà L tham gia chơi tổng cộng 05 chân hụi (trong đó có 02 chân hụi hàng tháng đóng 5.000.000đ và 03 chân hụi hàng tháng đóng 3.000.000đ). Cụ thể:

- 01 chân hụi đóng 3.000.000đ/tháng; ngày mở hụi 25/12/2018; ngày mãn hụi 25/12/2019; có 13 người tham gia chơi. Bà L đóng hụi đến tháng 10/2019.

- 01 chân hụi đóng hàng tháng 5.000.000đ; ngày mở hụi 25/12/2018; ngày mãn hụi 25/12/2019; có 13 người tham gia chơi. Bà L đóng hụi đến tháng 10/2019.

- 01 chân hụi 5.000.000đ mở vào ngày 05/02/2018 có khoảng 23 người tham gia.

- 01 chân hụi 3.000.000đ mở vào tháng 08/2019 đến cuối năm 2019 mãn hụi.

- 01 chân hụi 3.000.000đ mới tham gia đóng Đ ba tháng.

Bà Võ Thị Thùy L xác định: Tất cả những chân hụi tham gia chơi do ông N làm chủ đều chưa hốt. Hàng tháng bà L đều đóng hụi đầy đủ. Thế nhưng, khi ông N vỡ nợ thì không chồng hụi cho bà L. Bà L xác định hiện nay, ông N, bà L còn nợ tiền hụi của vợ chồng bà L là 192.000.000đ. Cho nên, bà L khởi kiện yêu cầu bà L, ông N phải trả lại số tiền 192.000.000đ.

[2] Thể hiện tại các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án ông Trần Văn N trình bày như sau:

Do thời gian đã lâu nên ông N không thể xác định bà L đã tham gia chơi chân hụi nào; số tiền là bao nhiêu. Tuy nhiên, ông Trần Văn N thừa nhận còn nợ bà Võ Thị Thùy L số tiền nợ hụi là 192.000.000đ. Hiện nay, bà L khởi kiện yêu cầu ông N phải trả lại số tiền 192.000.000đ thì ông N chấp nhận. Thế nhưng, ông N xác định đây là nợ riêng của ông N. Bà Đinh Thị L là vợ của ông N không liên quan đến. Do đây là việc làm ăn riêng của bản thân ông N. Ông N không sử dụng số tiền này vào mục đích sử dụng chung trong gia đình nên tiền nợ hụi của bà L không phải nợ chung của vợ chồng ông N. Cho nên, bà L không có trách nhiệm trả tiền cho bà L.

[3] Bị đơn – Bà Đinh Thị L trình bày như sau:

Ông Trần Văn N là người trực tiếp thỏa thuận chơi hụi với bà L. Chuyện làm ăn của ông N, bà L không biết gì. Thời gian qua, ông N cũng không đem tiền về để chăm lo cho gia đình. Cho nên, bà L không liên quan gì đến số tiền nợ giữa bà L và ông N. Do đó, bà L không có trách nhiệm trả tiền nợ hụi cho bà L.

[4]. Những chứng cứ khác đã thu thập Đ trong hồ sơ vụ án:

- Nguyên đơn - Bà Võ Thị Thùy L cung cấp: 01 sổ hộ khẩu (photo); 02 giấy chứng minh nhân dân (photo).

- Ông Trần Văn N, bà Đinh Thị L cung cấp: 02 chứng minh nhân dân (photo).

- Tòa án tiến hành lấy lời khai của các đương sự; xác minh tại địa phương về những vấn đề liên quan đến vụ án.

[5] Các vấn đề đương sự thống nhất.

Bà Võ Thị Thùy L yêu cầu vợ chồng ông N, bà L phải trả lại tổng số tiền nợ hụi 192.000.000đ. Ông Trần Văn N thừa nhận còn nợ bà Chiến số tiền 230.000.000đ.

[6] Các vấn đề đương sự không thống nhất.

Bà Võ Thị Thùy L cho rằng số tiền 192.000.000đ là nợ chung của vợ chồng ông N, bà L. Ông N, bà L cho rằng đây là khoản tiền nợ riêng của ông N.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày ý kiến tranh luận: Theo đơn khởi kiện bà Võ Thị Thùy L yêu cầu ông N, bà L phải trả lại 05 chân hụi chưa hốt với số tiền là 192.000.000đ. Thể hiện tại các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ông N thừa nhận còn nợ tiền hụi bà L là 192.000.000đ. Trong thời gian này, ông N và bà L có mối quan hệ vợ chồng với nhau. Cho nên, đây là nợ chung của bà L, ông N. Do đó, bà L và ông N có trách nhiệm liên đới trả lại cho vợ chồng bà L số tiền nợ hụi 192.000.000đ là phù hợp.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh L phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm vụ án.

- Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của BLTTDS. Ông Trần Văn N và bà Đinh Thị L đã có đơn xin xét xử vắng mặt; căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự đề nghị tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp

Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

- Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35; Điều 146, 147, 203, 227, 228 BLTTDS năm 2015.

- Điều 471 BLDS năm 2015.

- Nghị định 19/2019, ngày 19/02/2019 về họ, hụi, biêu, phường.

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Thùy L.

Buộc vợ chồng ông Trần Văn N, bà Đinh Thị L phải liên đới trả số tiền nợ hụi là 192.000.000đ cho vợ chồng bà Võ Thị Thùy L và ông Nguyễn Văn Đ.

Về án phí: Miễn án phí cho ông Trần Văn N. Bà Đinh Thị L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại tiền tạm ứng án phí cho bà Võ Thị Thùy L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn - ông Trần Văn N, bà Đinh Thị L đã Đ Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng ông N và bà L đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xem xét, xét xử vắng mặt các bị đơn. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp.

Về quan hệ tranh chấp trong vụ án: Bà Võ Thị Thùy L khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Trần Văn N, bà Đinh Thị L phải trả số tiền nợ hụi là 192.000.000đ. Ngoài ra, các đương sự không có yêu cầu gì khác. Do đó, HĐXX xác định quan hệ tranh chấp cần giải quyết trong vụ án này là “Tranh chấp về nợ hụi” là phù hợp với quy định tại khoản 3, Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự

Xét yêu cầu của bà Võ Thị Thùy L:

Thể hiện tại các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ông Trần Văn N và bà Đinh Thị L đều cho rằng số tiền nợ hụi của bà Võ Thị Thùy L là khoản nợ riêng của ông Trần Văn N. Bà Đinh Thị L không có trách nhiệm liên đới cùng ông N trả tiền nợ hụi cho bà L. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa, bà Võ Thị Thùy L khai nhận: Trong khoảng thời gian tham gia chơi hụi. Bà Đinh Thị L, ông Trần Văn N đều là những người trực tiếp tham gia thu tiền hụi của bà L. Số tiền nợ hụi mà bà L khởi kiện ông Trần Văn N, bà Đinh Thị L phát sinh trong thời gian ông N, bà L có mối quan hệ vợ chồng với nhau. Tại biên bản xác minh ngày 24/7/2020 thể hiện: Trong thời gian ông N, bà L còn sống tại địa phương có nghề nghiệp là làm chủ hụi và cho vay tiền. Ngoài ra, ông N và bà L không còn nghề nghiệp gì khác. Tất cả những chi phí sinh hoạt trong gia đình đều thu nhập từ việc làm chủ hụi và cho vay. Cho nên, có đủ căn cứ xác định số tiền nợ hụi của bà L là nợ chung của vợ chồng ông N, bà L.

Tại phiên tòa, mặc dù bà Võ Thị Thùy L không cung cấp Đ chứng cứ gì chứng minh có tham gia chơi hụi do ông N, bà L làm chủ. Bà L xác định ông N, bà L còn nợ tiền hụi là 192.000.000đ. Thế nhưng, căn cứ vào lời khai của ông Trần Văn N, ngày 10/7/2020 xác định: Hiện nay, ông Trần Văn N còn nợ tiền hụi bà L tổng số tiền là 192.000.000đ. Căn cứ vào quy định tại Điều 92 BLTTDS đây là tình tiết không cần phải chứng minh. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy: Yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Thùy L về việc buộc ông Trần Văn N, bà Đinh Thị L phải trả lại cho vợ chồng bà L, ông Đ số tiền nợ hụi 192.000.000đ là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 471 BLDS năm 2015.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của bà L Đ chấp nhận toàn bộ nên cần buộc vợ chồng ông Trần Văn N, bà Đinh Thị L phải liên đới nộp án phí DS/ST; trả lại tiền tạm ứng án phí DSST cho bà L là phù hợp với quy định tại các Điều 146, 147 BLTTDS và Nghị quyết 326/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuy nhiên, do ông Trần Văn N, sinh năm 1955 theo quy định tại Điều 2 Luật người cao tuổi thì ông N là người cao tuổi. Căn cứ vào quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 48 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 thì ông N thuộc trường hợp miễn nộp tiền án phí nên ông N không phải nộp án phí DS/ST theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; các Điều 146, 147, 203 và Điều 227, Điều 228 Bộ luật TTDS;

- Các Điều 471 và khoản 2 Điều 357 BLDS 2015;

- Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Thùy L:

Buộc ông Trần Văn N, bà Đinh Thị L phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà Võ Thị Thùy L, ông Nuyễn Văn Đ số tiền nợ hụi là 192.000.000đ (Một trăm chín mươi hai triệu đồng).

Chia phần:

Ông Trần Văn N phải có trách nhiệm trả cho bà Võ Thị Thùy L, ông Nguyễn Văn Đ số tiền nợ hụi 96.000.000đ (chín mươn sáu triệu đồng).

Bà Đinh Thị L phải có trách nhiệm trả cho bà Võ Thị Thùy L, ông Nguyễn Văn Đ số tiền nợ hụi 96.000.000đ (chín mươn sáu triệu đồng).

Kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án (ông N, bà L) còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không thỏa thuận Đ về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về án phí:

- Buộc bà Đinh Thị L phải nộp 4.800.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, sung công quỹ Nhà nước.

- Trả lại cho bà Võ Thị Thùy L số tiền 4.800.000.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số N0 003465, ngày 22/5/2020 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tánh L.

Án xử sơ thẩm. Nguyên đơn, người có quyền lọi nghĩa vụ liên quan (đã ủy quyền cho nguyên đơn) được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 10/8/2020. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa Đ quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án Đ niêm yết công khai (Đã giải thích quyền kháng cáo).

Trường hợp bản án Đ thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người Đ thi hành án dân sự, người phải thi hành án Dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án Đ thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ