vanban.org

Bản án 24/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TP. Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 17/09/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S. Buộc ông Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ trả Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền 33.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 18/9/2020) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ki… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP S và ông Nguyễn Văn H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S. Buộc ông Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ trả Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền 33.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP TRÀ VINH
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2020/DS-ST
Ngày: 17-9-2020
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thảo Nguyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phương Minh Thành.

Bà Lê Thị Trinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Tú, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên toà: Ông Đặng Chí Thiện - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 9 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 170/2020/TLST-DS, ngày 29 tháng 6 năm 2020, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2020/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 67/2020/QĐST-DS ngày 28/8/2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Địa chỉ trụ sở chính: Số BFF-BFH Đường N, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức T D, là Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP S.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Văn C N, Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng TMCP S, theo quyết định số 3941/2019/GUQ-PL, ngày 16/12/2019. Ông Đỗ Văn C N ủy quyền cho ông Châu Thế T, sinh năm 1992 – Chuyên viên quản lý nợ Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh Trà Vinh. Ủy quyền tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền số 63/2020/GUQ-CNTV ngày 10/7/2020. (Ông T có đơn xét xử vắng mặt).

Địa chỉ trụ sở chi nhánh: Số EEE Đường N, Khóm C, Phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1982. (vắng mặt)

Địa chỉ: Đường S, Khóm A, Phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và lời khai của ông Châu Thế T là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 16/12/2017 ông Nguyễn Văn H có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S, hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 685/2017-HĐ ngày 21/12/2017, Điều khoản, Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ vào thu nhập của ông Nguyễn Văn H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Lãi suất tại thời điểm làm thẻ là 2.15%/tháng. Lãi suất rút tiền mặt là 2,5%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất rút tiền mặt. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Nguyễn Văn H đã thực hiện các giao dịch rút tiền mặt, với tổng số tiền là 19.628.785 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông H đã thanh toán cho ngân hàng được số tiền 7.200.000 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông H vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên ngày 30/11/2018 ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.

Tính đến ngày 17/9/2020, ông H còn nợ ngân hàng các khoản sau: nợ gốc 18.538.894 đồng, lãi quá hạn 15.225.318 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 33.764.212 đồng.

Nay Ngân hàng Thương mại cổ phần S yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn H phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền vay vốn gốc là 18.538.894 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 17/9/2020 là 15.225.318 đồng. Tổng cộng gốc và lãi: 33.764.212 đồng. Yêu cầu ông H tiếp tục chịu lãi phát sinh theo lãi suất quy định tại hợp đồng kể từ ngày 18/9/2020 cho đến khi thanh toán xong nợ.

Bị đơn ông Nguyễn Văn H vắng mặt nên không có lời trình bày:

Vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

1. Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật Tố tụng dân sự của Thẩm phán về việc giải quyết vụ án trong thời gian chuẩn bị xét xử; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký tại phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Nguyễn Văn H phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền vay vốn gốc là 18.538.894 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 17/9/2020 là 15.225.318 đồng. Tổng cộng gốc và lãi: 33.764.212 đồng. Yêu cầu ông H tiếp tục chịu lãi phát sinh theo lãi suất quy định tại hợp đồng kể từ ngày 18/9/2020 cho đến khi thanh toán xong nợ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn H phải chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

.Về thủ tục tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng Thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền còn nợ (bao gồm vốn gốc, lãi quá hạn và phần lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng). Căn cứ vào khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Vụ án có bị đơn ông Nguyễn Văn H cư trú tại Khóm A, Phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh nên tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

- Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Châu Thế T có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt đề ngày 14/9/2020. Bị đơn ông Nguyễn Văn H mặc dù đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng ông Nguyễn Văn H không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, và vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông Châu Thế T, ông Nguyễn Văn H là phù hợp với quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 17/9/2020 là 33.764.212 đồng. Trong đó: vốn gốc là 18.538.894 đồng, lãi quá hạn 15.225.318 đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đến khi ông H trả hết số tiền còn nợ. Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ vào Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 685/2017-HĐ ngày 21/12/2017, Điều khoản, Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng) được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S và ông Nguyễn Văn H, thể hiện ông Nguyễn Văn H có đề nghị Ngân hàng Thương mại cổ phần S cấp hạn mức tín dụng và được Ngân hàng đồng ý cấp hạn mức tín dụng với số tiền 20.000.000 đồng. Về mục đích cấp thẻ tín dụng, lãi suất rút tiền mặt, lãi suất quá hạn đúng với lời trình bày của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn. Sau khi được cấp thẻ ông Nguyễn Văn H đã thực hiện các giao dịch rút tiền mặt là 19.628.785 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, ông H đã thanh toán cho ngân hàng được số tiền 7.200.000 đồng. Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng nói trên là hợp đồng được lập thành văn bản. Các thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 685/2017-HĐ ngày 21/12/2017; Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng) đều thể hiện ý chí tự nguyện của các bên giao kết hợp đồng và phù hợp với quy định của pháp luật, nên hợp đồng này là hợp pháp. Do đó, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các bên giao kết hợp đồng và các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết. Ông Nguyễn Văn H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Điều 23 được quy định tại Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng, nên Ngân hàng Thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ trả cho ngân hàng tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 17/9/2020 là 33.764.212 đồng. Trong đó: vốn gốc là 18.538.894 đồng, lãi quá hạn 15.225.318 đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đến khi ông H trả hết số tiền còn nợ, là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Xét lời đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn H phải chịu toàn bộ án phí dân sự là 1.688.210 đồng.

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí 785.011 đồng, tại biên lai thu số 0000817 ngày 29/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Trà Vinh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 357, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S. Buộc ông Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ trả Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền 33.764.212 đồng. (Trong đó: vốn gốc là 18.538.894 đồng, lãi quá hạn tính đến ngày 17/9/2020 là 15.225.318 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 18/9/2020) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 685/2017-HĐ ngày 21/12/2017, Điều khoản, Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng).

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Văn H phải chịu toàn bộ án phí dân sự là 1.688.210 đồng.

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí 785.011 đồng, tại biên lai thu số 0000817 ngày 29/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Trà Vinh.

3. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ