vanban.org

Bản án 24/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hội An, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 28/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Thế H phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Xử phạt bị cáo Đỗ Thế H 09(Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/5/2019). Giao bị cáo H cho Ủy ban nhân dân xã Điện Trung, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Thế H phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Thế H phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỘI AN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2019/HS.ST
Ngày 28/5/2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Tấn Thành.

2/ Ông Đặng Mậu Tiếng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hoàng Dũng, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nghĩa, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2019/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2019/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2019, đối với bị cáo:

Đỗ Thế H, sinh ngày 01/3/1972 tại Điện Bàn, Quảng Nam; nơi cư trú: Tổ 04, thôn Tân Bình 4, xã Điện Trung, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: phụ hồ; trình độ học vấn: 8/12; con ông Đỗ L (chết) và bà Phạm Thị L1 (sinh năm 1933); có vợ là Đặng Ngọc Huỳnh H1 và 02 con (con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2003); tiền án, tiền sự: không; bị cáo hiện đang được áp dụng biện ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Ông Lê Đức Đ, sinh năm 1974.

Trú tại: Khối phố Bằng An Trung, phường Điện An, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. (Vắng mặt)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1965.

Trú tại: Tổ 09, khối Xuyên Trung, phường Cẩm Nam, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. (Vắng mặt)

2/ Ông Hồ H2, sinh năm 1964.

Trú tại: Tổ 15, thôn Nông Sơn 2, xã Điện Phước, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. (Vắng mặt)

- Người làm chứng: Ông Phạm Văn Ng, sinh năm 1964.

Trú tại: Tổ 09, khối Xuyên Trung, phường Cẩm Nam, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ sáng ngày 27/12/2018, anh Lê Đức Đ nhận được điện thoại từ công trình xây dựng nhà ở do anh Hồ H2 làm chủ thầu phụ trách phần xây dựng cơ bản, anh Đ làm chủ thầu cốt pha tại Tổ 9, khối Xuyên Trung, phường Cẩm Nam, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam về việc mất một số sắt dùng để đóng cốt pha. Anh Đ đến công trình kiểm tra, sau đó đến Công an phường Cẩm Nam, thành phố Hội An tố giác tội phạm. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, Công an phường Cẩm Nam, thành phố Hội An tiến hành kiểm tra nhà bà Nguyễn Thị Nh (buôn bán phế liệu sau lưng công trình), phát hiện số tài sản bị trộm cắp trong khu vực bãi phế liệu. Qua điều tra đã phát hiện bị cáo Đỗ Thế H là người đã thực hiện các hành vi trộm cắp tài sản.

Trong quá trình làm việc tại công trình, H biết được bà Nh có mua bán sắt vụn. Phát hiện tại công trình có một số cây chống tăng, đầu tăng, cây đôn, cây chống xô làm bằng thép mạ kẽm và sắt dùng để thi công cốt pha của anh Đ không có ai quản lý, giám sát nên bị cáo Hải đã nảy sinh ý định trộm cắp để bán cho bà Nh. Khoảng 05 giờ ngày 27/12/2018, Hải đến công trình sớm, lợi dụng lúc công trình không có ai trông coi, H đã trộm một số cây chống tăng, đầu tăng, cây chống xô vứt xuống bãi phế liệu của bà Nh. Sau đó, H đi qua bãi phế liệu và đem số tài sản trên cất giấu ở phía sau bên phải nhà bà Nh rồi quay về công trình làm việc, chưa trao đổi, mua bán gì với bà Nh đối với số sắt này. Khi bị phát hiện, số sắt này chưa bị dịch chuyển nên xác định được số lượng như sau: 24 cây chống tăng thép mạ kẽm hình dạng tròn rỗng đường kính Ø60 mm, dày 1,8ly, dài 1,7m; 21 đầu tăng sắt hình dạng tròn rỗng đường kính Ø32 mm, dài 50cm được bịt sắt hai đầu; 17 cây chống xô thép mạ kẽm hình dạng tròn rỗng đường kính Ø49 mm, dày 1,8ly, dài 2,4m; 06 cây chống xô thép mạ kẽm hình dạng tròn rỗng đường kính Ø49 mm, dày 1,8ly, dài 2m; 05 cây đầu chống tăng thép mạ kẽm hình dạng tròn rỗng đường kính Ø49 mm, dày 1,4ly, dài 2,4m.

Theo Kết luận định giá tài sản số 20/KLĐG ngày 23 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Hội An, tổng giá trị tài sản trộm cắp là 5.908.000 đồng (Năm triệu chín trăm linh tám nghìn đông).

Tại bản Cáo trạng số: 27/CT-VKSHA ngày 25 tháng 4 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An đã truy tố bị cáo Đỗ Thế H về tội “Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo H từ 9 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng. Bị cáo Đỗ Thế H rất ăn năn hối lỗi, mong Hội đồng xét xử xem xét, cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện lo cho kinh tế gia đình, nuôi mẹ già, vợ bệnh và nuôi con ăn học. Bị hại tuy vắng mặt nhưng có đơn xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hội An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và truy tố, bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo Đỗ Thế H đã khai nhận: Để có tiền trả nợ cho con, lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ thầu trong việc quản lý sắt dùng để đóng cốt pha, vào sáng ngày 27/12/2018, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt các loại sắt chống tăng, đầu tăng, chống xô có giá trị 5.908.000 đồng (Năm triệu chín trăm linh tám nghìn đông). Như vậy có đủ cơ sở để khẳng định hành vi trên đây của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:

Tội phạm mà bị cáo gây ra xâm phạm tài sản của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo vệ. Bị cáo Đỗ Thế H đã nhận thức được rằng việc chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật. Nhưng vì tham lam, muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà không cần bỏ sức lao động nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, bị cáo có hoàn cảnh gia đình quá khó khăn, có người thân có công với cách mạng và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đây là những tình tiết được Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ cho bị cáo một phần mức hình phạt nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo Đỗ Thế H phạm tội ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Do đó, không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho hưởng án treo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội và không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã tự thỏa thuận bồi thường, bị hại không yêu cầu gì thêm nên nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Sau khi điều tra làm rõ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hội An ra Quyết định xử lý vật chứng số 05b/QĐ ngày 14/02/2019 trả lại toàn bộ số sắt cho ông Lê Đức Đ là có căn cứ, đúng pháp luật. Đối với 04 cây sắt tròn đặc đường kính Ø16 mm, dài 2,7m ông Điệp đã trả lại cho ông Huyện nên không xử lý.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với hành vi 02 lần trộm cắp tài sản của H vào cuối tháng 11/2018 và giữa tháng 12/2018, do không xác định được số lượng sắt trộm cắp cụ thể ở mỗi lần, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hội An căn cứ số lượng tài sản thu giữ trừ đi số lượng tài sản Hải trộm cắp ngày 27/12/2018, giá trị tài sản bị trộm cắp là 2.329.500 đồng chưa đủ căn cứ để khởi tố Hải về tội “Trộm cắp tài sản” nên lập hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính đối với H là có căn cứ.

Đối hành vi mua tài sản do Đỗ Thế H trộm cắp vào cuối tháng 11/2018 và giữa tháng 12/2018 của bà Nguyễn Thị Nh, do hai lần trộm cắp tài sản này của Hải chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” nên không đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự bà Nh về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hội An lập hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Nh là đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Thế H phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015(đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Đỗ Thế H 09(Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/5/2019).

Giao bị cáo H cho Ủy ban nhân dân xã Điện Trung, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Đỗ Thế H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Đỗ Thế H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (28/5/2019). Những người có quyền kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ