vanban.org

Bản án 24/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 02/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn L phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Tấn L được miễn 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng y) tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 02/8/2019). Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn L phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 55 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN PHƯỚC
TỈNH QUẢNG NAM
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2019/HS-ST
Ngày 02-8-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN PHƯỚC, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trà Thị Thanh Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Thanh Hải; Ông Nguyễn Lương Xu;

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Tấn Nhựt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Lệ Tín - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2019/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2019/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Tấn L, sinh ngày 11/9/2000, tại: xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn 04, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn L (Đã chết) và bà Huỳnh Thị Hoài Th, sinh năm 1983; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 08 tháng 11 năm 2018 bị Trưởng Công an huyện T, tỉnh Quảng Nam ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, chưa chấp hành.

Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Tấn L hiện là phạm nhân đang chấp hành án theo Quyết định thi hành án phạt tù số: 01/2019/QĐ-CA, ngày 02/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tấn L: Bà Hường Thị Bích D - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Tấn A, sinh năm 1984, địa chỉ: Số 76, khối phố T, thị trấn T, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vụ án: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1999, địa chỉ: Thôn Ph, thị trấn T, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Hồ Hữu Đ, sinh năm 1984, địa chỉ: Khối phố B, thị trấn T, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam; Anh Nguyễn Thế V, sinh ngày 20/12/2001, địa chỉ: Thôn A, thị trấn T, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam do bà Nguyễn Thị Kh, sinh năm 1967 là mẹ ruột đại diện theo pháp luật. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 10/12/2018, Nguyễn Tấn L cùng uống rượu với Nguyễn Văn H, Nguyễn Thế V tại quán nhậu vỉa hè, đường Huỳnh Thúc Kh, thị trấn T. Đến khoảng 20 giờ 30 phút, Nguyễn Tấn L mượn xe môtô BKS 92M1-199.14 của Nguyễn Văn H để đến quán trà sữa Chị E thuộc khối phố T, thị trấn T để đi tìm bạn là Trần Quốc Đ nhưng không gặp Đ, L tiếp tục điều khiển xe đến quán Intanet FA thuộc thôn An T, thị trấn T để tìm Đ nhưng cũng không thấy nên L điều khiển xe quay lại quán nhậu vỉa hè theo đường 10/3. Khi đi đến đoạn đường trước số nhà 135, đường 10/3 thị trấn T Nguyễn Tấn L nhìn thấy ôtô tải BKS 92C-010.03 của anh Nguyễn Tấn A đỗ tại lô đất trống trên vỉa hè bên phải theo hướng di chuyển của L không có người trông coi nên L nảy sinh ý định trộm cắp bình ắc quy trên xe ôtô này để bán lấy tiền tiêu xài. Lúc này, Nguyễn Tấn L điều khiển xe đi lên lề đường dựng xe mô tô BKS 92M1-199.14 trước đầu xe ô tô tải BKS 92C-010.03 rồi đi đến hông bên trái của xe hướng bên tài xế ngồi, dùng tay bứt đứt dây điện đấu nối giữa bình ắc quy nhãn hiệu Đồng Nai N150, 12-V50 Ah với xe ô tô tải, rồi đem bình ắc quy để lên yên xe mô tô BKS 92M1-199.14, một tay điều khiển xe, một tay giữ bình ắc quy chạy về hướng T theo đường bờ kè Sông Tiên nối với đường Nam Quảng Nam. Khi đi đến Cầu Vôi thuộc xã T, huyện T thì xe hết xăng nên Nguyễn Tấn L xuống xe dắt bộ thì bị lực lượng Công an xã T đang đi tuần tra phát hiện tạm giữ bình ắc quy và xe mô tô nói trên.

Ngày 03/01/2019, Hội đồng định giá trong tố tụng huyện Tiên Phước định giá và kết luận bình ắc quy nhãn hiệu Đồng Nai N150, 12V-50Ah có giá trị tại thời điểm bị mất là 1.800.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số: 22/CTr-KSĐT ngày 24 tháng 6 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Phước đã truy tố bị cáo Nguyễn Tấn L về tội “Trộm cắp tài sản" theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 173, Điểm h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn L từ 12 đến 15 tháng tù và tổng hợp hình phạt của bản án số 28/2018/HSST, ngày 27/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Nguyễn Tấn A đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.

Người bào chữa cho bị cáo bà Hường Thị Bích D - Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Nam thống nhất với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Phước, đề nghị HĐXX xem xét đến điều kiện hoàn cảnh của bị cáo mồ côi cha từ nhỏ, sống với bà nội đã già yếu và hiện nay gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 173, điểm h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo 6 tháng tù giam.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tấn L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tấn L đồng ý với nội dung cáo trạng và khai nhận: Do không có tiền tiêu xài nên vào khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 10/12/2018 Nguyễn Tấn L đã lén lút trộm cắp của anh Nguyễn Tấn A, trú tại khối phố Tiên Bình, thị trấn Tiên Kỳ một bình ắc quy nhãn hiệu Đồng Nai N150, 12V-50Ah, có giá trị 1.800.000 đồng, sau khi trộm cắp trên đường mang đi tiêu thụ thì bị phát hiện.

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Tấn L tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Tấn L trộm cắp tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng trước đó ngày 08/11/2018 bị cáo bị Công an huyện Tiên Phước ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điểm a, Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Phước đã truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và trách nhiệm của bị cáo thì thấy: Bị cáo Nguyễn Tấn L có đủ khả năng nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, để có tiền tiêu xài, bị cáo đã bất chấp pháp luật, lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Trong vụ án này, Bị cáo Nguyễn Tấn L thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý trực tiếp, không chỉ xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Nguyễn Tấn L phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tài sản bị cáo trộm cắp đã được thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017). Bản thân bị cáo Nguyễn Tấn L bị mồ côi cha từ nhỏ, sống với bà nội và hiện nay thuộc diện hộ nghèo năm 2019 có xác nhận của chính quyền địa phương nên bị cáo còn được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy việc cách ly bị cáo Nguyễn Tấn L ra ngoài xã hội một thời gian là cần thiết để bị cáo có điều kiện cải tạo trở thành người có ích cho xã hội như đề nghị của Kiểm sát viên và quan điểm của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo trộm cắp đã được thu hồi và trả lại cho anh Nguyễn Tấn A. Người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng trong vụ án đã được xử lý và trao trả lại cho chủ sở hữu nhận, xét thấy như vậy là phù hợp.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Tấn L được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn L phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 173, Điểm h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 55, 56 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn L 09 (Chín) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 09 (Chín) tháng tù của bản án số 28/2018/HS-ST ngày 27/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án 16/01/2019.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Tấn L được miễn 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng y) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 02/8/2019). Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ