vanban.org

Bản án 24/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Lào Cai Tuyên án 18/09/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/09/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện P2, tỉnh Lào Cai, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 11/2019/HSST ngày 26/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện P2, tỉnh Lào Cai về hình phạt như sau:

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tẩn Láo San - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện P2, tỉnh Lào Cai, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 11/2019/HSST ngày 26/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện P2, tỉnh Lào Cai về hình phạt như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2019/HS-PT
Ngày 18/9/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Minh Quán.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Ngọc Toàn và ông Phùng Lâm Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thu Hằng – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 18/9/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 27/2019/TLPT-HS ngày 05 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo Tẩn Láo S do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2019/HSST ngày 26 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai.

Bị cáo bị kháng nghị: Tẩn Láo S; Tên gọi khác: Tẩn Ỳ P; Sinh ngày 09 tháng 08 năm 1997, tại Sa Pa, Lào Cai;

ĐKHKTT: Thôn B, xã P1, huyện P2, Lào Cai;

Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12;

Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Con ông Tẩn Duần C và con bà Tẩn Tả M.

Gia đình bị cáo có ba anh chị em, bị cáo là con thứ ba;

Vợ: Chảo Mùi M1, sinh năm 1998, Bị cáo có 01 con, sinh năm 2016.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/04/2019 đến ngày 12/4/2019; Hiện đang bị áp dụng biệp pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa).

* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nông Thị Thúy H – Trợ giúp viên, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lào Cai. (Có mặt tại phiên tòa)

* Những người bị hại:

1. Tẩn Dào C1 – Trú tại: Thôn B, xã P1, huyện P2, tỉnh Lào Cai (Vắng mặt tại phiên tòa);

2. Chảo Dào S – Trú tại: Thôn B, xã P1, huyện P2, tỉnh Lào Cai (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Chiều ngày 02/4/2019, Tẩn Láo S từ thị trấn P2 đi về nhà tại Thôn B, xã P1, huyện P2 để xin tiền gia đình trả nợ. Khi về đến nhà S gặp và hỏi xin tiền mẹ mình là bà Tẩn Tả M nhưng bà M nói không có nên S đã nảy sinh ý định lấy trâu của gia đình đem đi bán. Khoảng 20 giờ cùng ngày, S đi sang nhà anh trai là Tẩn Láo T hỏi xin số điện thoại của người mua trâu tên là Bạch Văn S1. Sau đó, S gọi điện thoại cho S1 nói muốn bán 02 con trâu cái của gia đình, S1 đồng ý mua và hẹn S sáng ngày 03/04/2019 mang trâu đến cầu M2, đường tỉnh lộ 152, thuộc thôn A, xã T1, huyện P2. S về nhà lấy chiếc đèn pin rồi điều khiển xe mô tô BKS 24S1-2213 đến lán của gia đình mình. Tại đây, S nảy sinh ý định trộm cắp trâu thả rông của các hộ dân. S lấy 01 đoạn dây thừng màu xám rồi điều khiển xe mô tô đi theo đường liên thôn B, hướng P1 – T2 khoảng 700m, đến khu vực đồi có trâu thả rông của anh Tẩn Kiềm C1 ở thôn B, xã P1, S dừng lại và để xe ở lề đường rồi cầm đèn pin và đoạn dây thừng đi bộ lên đồi. S thấy 04 con trâu trong đó có một con trâu cái to và con trâu cái nhỏ và nghĩ là hai mẹ con nên quyết định trộm cắp hai con trâu trên. S lùa bắt được con trâu cái to nhất dắt đi vào đường mòn hướng đi xã Suối Thầu, đồng thời lùa con trâu cái nhỏ nhất đi theo. Đi được khoảng 100 mét, Tẩn Láo S nhìn thấy 02 con trâu còn lại đi theo, nên S đuổi 02 con trâu đi theo quay lại, rồi tiếp tục lùa hai con trâu trộm cắp được đi theo hướng T2. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 03/4/2019, Tẩn Láo S dắt 02 con trâu trộm cắp đến đường liên thôn cách đường tỉnh lộ 152 khoảng 150 mét, cách cầu M2 khoảng 170 mét, thuộc thôn A, xã T2, huyện P1, S buộc con trâu cái to vào ống dây dẫn nước gần gốc cây to và nhìn thấy 02 con trâu con lại vẫn đi theo. S không đuổi 02 con trâu đi theo nữa mà đi bộ về chỗ để xe máy, rồi đi xe về nhà ngủ.

Đến khoảng 06 giờ 30 ngày 03/04/2019, S điều khiển xe mô tô đến cầu M1 chờ S1. Khoảng 09 giờ 30 phút, S1 và Lù Văn H1 đi xe máy đến, S ra đón, rồi cả 3 để xe ở khu vực gần cầu M1 và đi bộ lên vị trí S để trâu. Tại đây, S chỉ cho S1 hai con trâu mà S đã lấy trộm và bảo bán cặp trâu mẹ, S1 hỏi hai con trâu còn lại có bán không, S có nói là hai con trâu này là con trâu của bác hàng xóm nên không bán. S1 và S thống nhất giá là 27.000.000 đồng. Tuy nhiên, do nghi ngờ về nguồn gốc trâu và không có ai chứng kiến việc mua bán trâu nên S1 và Hoan không mua trâu nữa mà đi về. S quay lại chỗ buộc giấu trâu thì bị Công an xã T1 bắt quả tang về hành vi trộm cắp tài sản.

Tại kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐG, ngày 09/04/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P2 kết luận: 01 con trâu cái 7 tuổi trị giá 30.000.000đ; 01 con trâu cái khoảng 3 tuổi, trị giá 21.000.000đ. Tổng cộng là 51.000.000đ.

Bản án số 11/2019/HSST ngày 26/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện P2 đã xét xử: Tuyên bố bị cáo Tẩn Láo S phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 173; Điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Tẩn Láo S 02 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 4 năm.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, giải quyết vật chứng và án phí theo quy định.

Sau xét xử, ngày 10/7/2019 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện P2 ban hành kháng nghị số 01/QĐ-VKSSP đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng không áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm h khoản 1 Điều 51 và không cho hưởng án treo đối với bị cáo Tẩn Láo S.

* Tại phiên toà:

Bị cáo Tẩn Láo S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã nhận định và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai giữ nguyên nội dung kháng nghị và phát biểu ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 11/2019/HSST ngày 26/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện P2, tỉnh Lào Cai, theo hướng: Không cho bị cáo hưởng án treo.

Người bào chữa cho các bị cáo có ý kiến: Không nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện P2.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Do cần tiền để trả khoản nợ trước đó, tối ngày 02/4/2019, Tẩn Láo S đến lán của gia đình mình với mục đích bắt trâu của gia đình mang đi bán. Tuy nhiên khi đến lán của gia đình, Tẩn Láo S nảy sinh ý định sẽ trộm cắp trâu thả rông của các hộ dân. Nên Tẩn Láo S lấy sợi dây thừng đi đến khu vực đồi có trâu thả rông của anh Tẩn Kiềm C1 ở thôn B, xã P1 S bắt được 02 con trâu của gia đình anh Tẩn Dào C và anh Chảo Dào S. Tẩn Láo S dắt trâu trộm cắp đến đường liên thôn cách đường tỉnh lộ 152 khoảng 150 mét, cách cầu M1 khoảng 170 mét, thuộc thôn A, xã T1, huyện P2, S buộc trâu trộm cắp được vào ống dây dẫn nước rồi đi về nhà ngủ. Sáng hôm sau, ngày 03/04/2019, Tẩn Láo S đến cầu M1 để bán trâu cho Bạch Văn S1 và Lù Văn H1. S1 và S thống nhất giá là 27.000.000 đồng. Tuy nhiên, do nghi ngờ về nguồn gốc trâu và không có ai chứng kiến nên S1 và Hoan không mua. Khi Tẩn Láo S quay lại chỗ buộc giấu trâu thì bị Công an xã T1 bắt quả tang về hành vi trộm cắp tài sản. 02 con trâu do Tẩn Láo S trộm cắp có trị giá là 51.000.000 đồng, Cơ quan điều tra đã trao trả cho người bị hại. Vì vậy bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện P2 xét xử và tuyên phạt bị cáo 02 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện P2, tỉnh Lào Cai, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong đời sống, quần chúng nhân dân. Vì vậy cần phải xử lý bị cáo nghiêm minh trước pháp luật nhằm giáo dục cải tạo bị cáo đồng thời làm bài học cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

Về kháng nghị của Viện kiểm nhân dân huyên P2 và ý kiến của đại diện Viện kiểm nhân dân tỉnh Lào Cai, Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù bị cáo trộm cắp tài sản có trị giá là 51.000.000 đồng nhưng tài sản đã được thu hồi trả cho người bị hại trước khi bị cáo tiêu thụ; mỗi người bị hại chỉ bị mất một khoản tiền chi phí đi tìm trâu là 1.500.000 đồng. Như vậy cho thấy hành vi phạm tội của bị cáo có gây thiệt hại nhưng không lớn cho người bị hại nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạp đối với bị cáo là hoàn toàn chính xác, đúng quy định của pháp luật.

Tài sản bị cáo Tẩn Láo S xâm phạm của người bị hại: Theo lời trình bày của các bị hại, gia đình các bị hại đều có 03 con trâu, có nhà cửa, ruộng vườn và nương trồng ngô. Như vậy, con trâu mà bị cáo bắt trộm của người bị hại cũng chỉ là tài sản bình thường như những tài sản khác, không phải là phương tiện kiếm sống duy nhất, quan trọng nhất của người bị hại trong sản xuất như kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân P2 nhận định.

Theo biên bản xác minh của Viện kiểm sát nhân dân huyện P2, trong những năm qua, trên địa bàn xã có một số vụ việc mất trâu, bò, gà. Nhưng do tập quán của người dân vùng cao thả rông trâu bò, thiếu sự quản lý nên khi phát hiện bị mất cũng chưa xác định được là trộm cắp hay vì lý do gì khác, chính vì vậy những vụ mất trâu bò như vậy đều không khởi tố vụ án.

Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chính quyền địa phương xác nhận bị cáo và gia đình bị cáo là người có nhân thân tốt, từ trước tới nay luôn chấp hành các quy định của Đảng nhà nước, không có vi phạm gì. Hành vi phạm tội gây thiệt hại không lớn; Sau khi phạm tội đã ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại; Điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, vợ ốm đau, 02 con nhỏ, một mình bị cáo lao động kiếm tiền nuôi gia đình; Những người bị hại cũng tha thiết xin giảm nhẹ cho bị cáo. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy mức án 02 năm tù cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội; thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nhà nước XHCN và cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.

Từ những phân tích trên thấy rằng: Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện P2, tỉnh Lào Cai là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện P2, tỉnh Lào Cai, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 11/2019/HSST ngày 26/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện P2, tỉnh Lào Cai về hình phạt như sau:

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; Điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Tẩn Láo S 02 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 4 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Tẩn Láo S cho Ủy ban nhân dân xã P1, huyện P2, tỉnh Lào Cai giám sát, giáo dục.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về vật chứng, án phí không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ