vanban.org

Bản án 24/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 07/03/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/03/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự púc thẩm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 24/2019/HS-PT

Ngày: 07/03/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Nghĩa Các Thẩm phán : Ông Nguyễn Hữu Đăng Thanh : Bà Lâm Vương Mỹ Linh. - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Thành – Kiểm sát viên. Ngày 07 tháng 3 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 12/2019/TLPT- HS ngày 09 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2018/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. - Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn T, sinh năm 1967, tại KH; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường C, thành phố R, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị V (sinh năm 1935); có vợ là Võ Thị Thu T (sinh năm 1966) và 01 con sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại: có mặt tại phiên tòa. - Người tham gia tố tụng khác có liên quan đến kháng cáo: Bị hại: Dương Quang H, sinh năm 1975; nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường C, thành phố R, tỉnh Khánh Hòa: có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn T và Dương Quang H có mâu thuẫn với nhau từ trước. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 03/5/2018, Trung đi về ngang qua phòng trọ anh Nguyễn Văn N thì thấy H đang ngồi nhậu cùng với anh N, chị Lương Thị C, Trần Thị K. Tại đây, T và H xảy ra kình cãi dẫn đến xô xát, T dùng tay đánh nhiều cái vào vùng đầu, mặt của H và kéo H ra bên ngoài đường. H nhặt 01 cây

tre gần đó để đánh lại nhưng được mọi người can ngăn. T đi về nhà nhưng vẫn bực tức nên quay lại để tìm đánh H. Khi quay lại thấy H đang ngồi trước cửa nhà của anh Nguyễn Phú C (sát phòng trọ của anh N), T đến nói với H: “Mày đánh không lại tao, sao lấy cây đánh tao”, H nhìn lên thì bị T dùng chân phải đá một cái vào mặt làm H ngã đập đầu xuống nền bê tông và bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 45% với các thương tích: 01 vết sẹo vùng cánh mũi trái dài 01cm, 01 vết sẹo vùng môi trên trái dài 02cm, vùng đỉnh thái dương phải có 01 vết sẹo dài 35cm và 01 lỗ khuyết xương sọ đường kính 10cm, đáy phập phồng. Chấn thương vùng đầu gây máu tụ dưới màng cứng bán cầu phải, dập xuất huyết não thái dương phải; đã được phẫu thuật; Hiện tại liệt nhẹ ½ người bên trái (Theo kết luận giám định pháp y về thương tích số 236/TgT ngày 18/7/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa). Quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 50.000.000đ. Tại Bản án số 56/2018/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2018, Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa đã áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 04 (bốn) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngoài ra bản án còn công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại về trách nhiệm dân sự (bị cáo tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 30.000.000đ), quyết định án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại. Ngày 27/11/2018, bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt với lý do bị cáo hiện đang bị bệnh nặng. Tại phiên tòa, bị cáo trình bày: Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã tự nguyện bồi thường thêm cho bị hại 50.000.000đ và được bị hại bãi nại. Người bị hại xác nhận đã nhận được tiền bồi thường như bị cáo trình bày và đề nghị xem xét không buộc bị cáo phải chấp hình phạt. Phát biểu tại phiên tòa, Kiểm sát viên cho là việc bị cáo bồi thường thêm cho bị hại sau khi xét xử sơ thẩm là tình tiết mới được xem xét cho bị cáo và đề nghị chấp nhận kháng cáo, giảm hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Hành vi dùng chân đạp vào mặt bị hại làm bị hại ngã xuống nền xi măng gây tổn thương cơ thể cho bị hại do thương tích gây nên 45% do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm sức khỏe của bị hại, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội và thuộc trường hợp cố ý “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%”. Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự và xem xét các tình tiết bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường một phần thiệt hại cho người bị hại để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo các

điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là có căn cứ. [2] Căn cứ vào nhân thân của bị cáo, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện, cá tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng với bị cáo, mức hình phạt tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt với bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thêm cho bị hại số tiền 50.000.000đ, được bị hại bãi nại nên kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo là có cơ sở để chấp nhận; Bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm b Khoản 1 Điều 355, Điểm c Khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, 1. Sửa một phần bản án sơ thẩm: Căn cứ Điểm a Khoản 2 Điều 134, Điểm b, s Khoản 1 Điều 51, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Xử phạt: Nguyễn Văn T 03 (ba) năm 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án; 2. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu án phí phúc thẩm. 3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ