- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn H - Nguyễn Thị Tuyết N "tranh chấp ly hôn, nuôi con""
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H đối với bà Nguyễn Thị Tuyết N.
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án số: 24/2019/HNGĐ-ST Ngày: 21 - 11 - 2019 “V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Trình Văn Út.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Văn Truyện.
Bà Lâm Thị Kim Xuyến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Văn Công - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.
Ngày 21/11/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 69/2019/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/QĐXX-ST ngày 07 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1972; Địa chỉ: Khu phố 3, Phường 2, thị xã K, tỉnh L (Tạm trú tại: Số 28, đường L, khu phố 5, Phường 2, thị xã K, tỉnh L).
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1975; Địa chỉ: Khu phố 3, Phường 2, thị xã K, tỉnh L (Tạm trú tại: Số 28, đường L, khu phố 5, Phường 2, thị xã K, tỉnh L).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn của ông Nguyễn Văn H và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa, thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn H trình bày: Vào năm 1998 ông với bà N tìm hiểu, thương yêu nhau và tiến hành tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn M (nay là thị xã K). Hôn nhân tự nguyện không ai ép buộc, cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc từ khi cưới đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là bà N không lo làm ăn mà sinh tật bài bạc nên vợ chồng thường xuyên cải vã nhau. Từ đó, tình cảm vợ chồng rạn nứt và bất đồng quan điểm sống nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Sự việc xảy ra đã được gia đình giải quyết nhưng không có kết quả, hiện nay ông với bà N đã sống ly thân từ năm 2016 nên không còn điều kiện, khả năng để hàn gắn trở lại xây dựng hạnh phúc gia đình và nuôi dạy con chung. Vì vậy, ông làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà N trả tự do cho nhau.
Về con chung: Trong thời gian vợ chồng chung sống có 03 người con chung tên Nguyễn Trí T, sinh năm 1999, giới tính nam; Nguyễn Chí T1 sinh ngày 21/7/2003, giới tính nam và Nguyễn Chí T2, sinh ngày 13/8/2008, giới tính nam. Hiện nay ông H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Sau khi ly hôn ông H yêu cầu được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục bà N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Ông Nguyễn Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông Nguyễn Văn H cam kết không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi nhận được đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn H Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật. Tòa án đã ra Thông báo về việc thụ lý vụ án số 69/TB-TLVA ngày 15/7/2019; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 113/TB-TA ngày 15/7/2019; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 195/TB-TA ngày 07/8/2019 đã niêm yết theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật Tố Tụng dân sự, nhưng bà N không đến tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Ông Nguyễn Văn H làm đơn khởi kiện xin ly hôn, quyền nuôi con đối với bà Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1975; Địa chỉ: Khu phố 3, Phường 2, thị xã K, tỉnh L (Tạm trú tại: Số 28, đường L, khu phố 5, Phường 2, thị xã K, tỉnh L), Tòa án nhân dân thị xã Kiến tường thụ lý giải quyết là phù hợp với Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử Tòa án đã niêm yết theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật Tố Tụng dân sự, nhưng bà N không có mặt nên Hội đồng xét xử Quyết định hoãn phiên tòa. Sau khi có Quyết định hoãn phiên tòa đã niêm yết theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật Tố Tụng dân sự, nhưng bà N không có mặt nên Hội đồng xét xử vắng mặt bà N là phù hợp với quy định của pháp luật tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Nguyễn Văn H với bà Nguyễn Thị Tuyết N có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn M (nay là thị xã K). Đây là hôn nhân hợp pháp nên Tòa án thụ ký giải quyết là phù hợp với với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Tại phiên tòa ông Nguyễn Văn H xác định không còn tình nghĩa vợ chồng với bà Nguyễn Thị Tuyết N, không còn điều kiện, khả năng để hàn gắn trở lại xây dựng hạnh phúc gia đình nuôi dạy con chung nên yêu cầu được ly hôn với bà N. Xét thấy, tình cảm vợ chồng của ông H với bà N đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không thương yêu, quí trọng, chăm sóc giúp đỡ nhau, hiện tại hai người đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Vì vậy, cần xem xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Văn H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Tại phiên tòa ông Nguyễn Văn H yêu cầu được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 03 người con chung tên Nguyễn Trí T, sinh năm 1999, giới tính nam; Nguyễn Chí T1, sinh ngày 21/7/2003, giới tính nam và Nguyễn Chí T2, sinh ngày 13/8/2008, giới tính nam không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, từ khi ông H với bà N sống ly thân đến nay, ông H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng 03 người con chung phát triển bình thường như bao trẻ khác. Để ổn định tâm lý cũng như nguyện vọng của các cháu nên chấp nhận yêu cầu của ông H là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung: Ông Nguyễn Văn H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Ông Nguyễn Văn H cam kết không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 3, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016. Ông Nguyễn Văn H phải chịu tiền án phí sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a 1hoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56 và từ Điều 81 đến Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H đối với bà Nguyễn Thị Tuyết N.
Về hôn nhân: Xử cho ông Nguyễn Văn H ly hôn với bà Nguyễn Thị Tuyết N.
Về con chung: Tiếp tục giao 03 người con chung tên Nguyễn Trí T, sinh năm 1999, giới tính nam; Nguyễn Chí T1, sinh ngày 21/7/2003, giới tính nam và Nguyễn Chí T2, sinh ngày 13/8/2008, giới tính nam cho ông Nguyễn Văn H trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Thị Tuyết N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc ngây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Ông Nguyễn Văn H phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0007213 ngày 11/7/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An. Ông Nguyễn Văn H đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt ông H báo cho biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng bà Nguyễn Thị Tuyết N được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND thị xã; - Chi cục THADS thị xã; - UBND phường 1, TX Kiến Tường; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trình Văn Út |