- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Hồ Văn T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Hồ Văn T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2019/HNGĐ- ST Ngày:10-5-2019 V/v: Ly hôn giữa chị Y và anh T |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đắc Nghị
2. Ông Trần Văn Bể
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
Ngày 10 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 61/2019/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 3 năm 2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2019/QĐXX-ST ngày 24 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hải Y, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Xóm M, xã H, huyện Y, tỉnh P
2. Bị đơn: Anh Hồ Văn T, sinh năm 1981
Địa chỉ: Thôn Gạo, xã H, huyện H, tỉnh T
(Chị Y và anh T đều có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, trong quá trình chuẩn bị xét xử và tai phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hải Y trình bày:
Về hôn nhân: Chị kết hôn với anh Hồ Văn T do tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân (viết tắt là UBND) xã UBND xã H, huyện H, tỉnh T vào ngày 18-10-2016. Sau khi kết hôn vợ chồng vợ chồng chị thuê nhà và chung sống hòa thuận, hạnh phúc tại thành phố Hà Nội đến tháng 4 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, không bảo ban được nhau trong cuộc sống hàng ngày, vợ chồng không chia sẻ cùng nhau trong cuộc sống, mỗi lần vợ chồng bàn bạc việc gì thì anh T đều im lặng, dẫn đến vợ chồng dần lạnh nhạt tình cảm, hai bên gia đình đã nhiều lần hòa giải nhưng không được. Mâu thuẫn căng thẳng, chị không thể tiếp tục cuộc sống như vậy nên tháng 6 năm 2018 chị đã thuê nhà ra chỗ khác để sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị xác định tình cảm không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.
Về nuôi con chung, tài sản chung: Không có.
Trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Hồ Văn T trình bày:
Về hôn nhân: Anh nhất trí với trình bầy của chị Y về điều kiện, hoàn cảnh, thời gian, địa điểm kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng thuê nhà và chung sống hòa thuận, hạnh phúc tại thành phố Hà Nội đến giữa năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách khác biệt, mỗi lần mâu thuẫn thì anh tìm cánh im lặng nhưng chị Y cho rằng thiếu quan tâm và chia sẻ không bảo ban được nhau trong cuộc sống hàng ngày, anh đã nhờ hai bên gia đình đã nhiều lần hòa giải nhưng không được. Mâu thuẫn căng thẳng vợ chồng không khắc phục được, tháng 6 năm 2018 chị Y đã thuê nhà ra chỗ khác để sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay anh xác định tình cảm vẫn còn, đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Nếu chị Y cương quyết ly hôn thì anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về nuôi con chung, tài sản chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Hải Y khởi kiện yêu cầu được ly hôn Hồ Văn T, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hải Y kết hôn với anh Hồ Văn T tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, tỉnh T vào ngày 18-10-2016, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không bảo ban được nhau trong cuộc sống hàng ngày, đôi bên không khắc phục được và đã ly thân từ tháng 6 năm 2018 đến nay. Xét mâu thuẫn giữa chị Y và anh T đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh T đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không có giải pháp nào để khắc phục mâu thuẫn vợ chồng, hơn nữa chị Y và anh T đều thừa nhận hai bên gia đình đã nhiều lần hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị Y, xử cho chị Y được ly hôn anh T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về nuôi con chung: Chị Y và anh T không có con chung, không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Y phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Hồ Văn T.
2.Về nuôi con chung, chia tài sản chung: Không có.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hải Y phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị Y đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005505 ngày 07-3-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình thành tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm (chị Y đã nộp đủ).
4.Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Hồ Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà; - Chi cục THADS huyện Hưng Hà; - UBND xã H; - Lưu hồ sơ vụ án. Thµnh viªn héi ®ång xÐt xö | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Bích Thủy THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Bích Thủy |