vanban.org

Bản án 24/2019/HNGĐ-PT — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 19/11/2019 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Quang T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Về án phí: Ông Lê Quang T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0005198 ngày 14 tháng 10 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự quận K, thành phố Đà Nẵng. Ông T đã … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Lê Quang T - Nguyễn Thị Mỹ Q"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Quang T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24 /2019/HNGĐ-PT
Ngày 19-11-2019
V/v tranh chấp thay đổi người
trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tự Sinh.

Các Thẩm phán:

Ông Bùi Trọng Danh.

Bà Đỗ Thị Thúy Năng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Bà Võ Hồng Thắng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 19 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 23/2019/TLPT-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2019 về việc “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.

Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 30/2019/HNGĐ-ST ngày 19 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận K, thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 20/2019/QĐXXPT-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Lê Quang T; sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Trị; có mặt

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ Q, sinh năm 1991; Địa chỉ: Số 395 đường N, tổ 36 phường A, quận K, thành phố Đà Nẵng; có mặt

3. Người kháng cáo: Ông Lê Quang T, là nguyên đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Nguyên đơn là ông Lê Quang T trình bày:

Ông Lê Quang T và bà Nguyễn Thị Mỹ Q là vợ chồng, có 01 con chung tên là Lê Minh K, sinh ngày 12/7/2015. Tháng 4/2018, ông T và bà Q ly hôn. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 16/2018/QĐST-HNGĐ ngày 13/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Quảng Trị, ông bà thỏa thuận giao cháu K cho bà Q trực tiếp nuôi dưỡng do cháu con nhỏ, ông T không cấp dưỡng nuôi con.

Tuy nhiên, ông T cho rằng hiện nay bà Q không có nơi cư trú ổn định, ở nhà thuê tại địa chỉ số 395 đường N, thành phố Đà Nẵng; bà Q không có thu nhập ổn định nên không thể đảm bảo điều kiện phát triển tốt nhất cho cháu K. Mặt khác, bà Q có hành vi cản trở ông T thăm nom, đưa đón cháu K đi chơi.

Nay, ông Lê Quang T yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, xin được nuôi cháu Lê Minh K và không yêu cầu bà Nguyễn Thị Mỹ Q cấp dưỡng nuôi con vì hiện nay ông có đủ điều kiện đảm bảo cho con phát triển tốt nhất.

*Bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ Q trình bày:

Bà nhất trí như trình bày của ông Lê Quang T về quá trình ly hôn và thoả thuận nuôi con khi ly hôn. Sau khi ly hôn, bà và cháu K trở về Đà Nẵng sinh sống, bà là người trực tiếp nuôi con, bà đã thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình, yêu thương, chăm sóc con chu đáo về vật chất cũng như tinh thần. Hiện nay bà lao động tại nhà nên có thể chủ động được thời gian đưa đón, chăm nom cháu K.

Ông Lê Quang T mặc dù công việc có thu nhập ổn định nhưng bản thân ông thường đi sớm về khuya, thường phải đi giao lưu bạn bè nên không thể bên cạnh kèm cặp con, không thể cho con đầy đủ tình thương và sự phát triển về tinh thần bằng bà Q. Mặt khác, hiện nay cháu K đã ổn định cuộc sống, việc thay đổi môi trường sống sẽ làm xáo trộn tinh thần của cháu. Do vậy, ông Lê Quang T yêu cầu thay đổi người nuôi con sau ly hôn thì bà không đồng ý.

Với nội dung trên, Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 30/2019/HNGĐ-ST ngày 19 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận K, thành phố Đà Nẵng, đã xử và quyết định:

Căn cứ khoản 3 Điều 28; khoản 1 Điều 35; các điều 146, 147, 203 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Quang T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Tiếp tục giao cho bà Nguyễn Thị Mỹ Q được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Lê Minh K, sinh ngày 12/7/2015 cho đến khi thành niên; ông T được quyền thăm nom, chăm sóc con, bà Q không được ngăn cản.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02 tháng 10 năm 2019, Tòa án nhân dân quận K, TP. Đà Nẵng nhận được đơn kháng cáo của ông Lê Quang T, kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung như sau: Không đồng ý kết quả xét xử của Bản án số 30/2019/HNGĐ-ST ngày 19/9/2019 của Tòa án nhân dân quận K, thành phố Đà Nẵng. Ông Lê Quang T yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giao cho ông nuôi dưỡng cháu Lê Minh K, sinh ngày 12/7/2015, không yêu cầu bà Nguyễn Thị Mỹ Q cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo, nguyên đơn, ông Lê Quang T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không rút kháng cáo. Bị đơn, bà Nguyễn Thị Mỹ Q không đồng ý với nội dung kháng cáo của ông T. Các đương sự không thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án, đồng thời giữ nguyên quan điểm đã trình bày tại cấp sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm là đúng pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Quang T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:

Đơn kháng cáo của ông Lê Quang T là hợp lệ, được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Xét nội dung kháng cáo của ông Lê Quang T xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Minh K, sinh ngày 12/7/2015, Hội đồng xét xử thấy rằng: tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 16/2018/QĐST-HNGĐ ngày 13/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Quảng Trị đã công nhận sự thỏa thuận giữa bà Nguyễn Thị Mỹ Q và ông Lê Quang T về việc giao con chung tên Lê Minh K, sinh ngày 12/7/2015 cho bà Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; bà Q không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Ngày 17/5/2019 ông T làm đơn đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con. Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 30/2019/HNGĐ-ST ngày 19/9/2019, Tòa án nhân dân quận K đã quyết định không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, tiếp tục giao cho bà Nguyễn Thị Mỹ Q trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Minh K cho đến khi thành niên; ông T được quyền thăm nom, chăm sóc con, bà Q không được ngăn cản. Ông T không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm, kháng cáo yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Minh K.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T đề nghị Tòa án giao cho ông trực tiếp nuôi con Lê Minh K, sinh ngày 12/7/2015 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, không yêu cầu bà Q cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, bà Q và ông T đều muốn trực tiếp nuôi dưỡng con chung, nguyện vọng của bà Q và ông T đều chính đáng, thể hiện trách nhiệm và tình cảm của cha mẹ đối với con cái. Theo bà Q khai, hiện nay bà làm nghề chăm sóc thẩm mỹ, thu nhập hàng tháng có dư tích lũy gửi tiết kiệm (bà Q cung cấp cho Tòa án bản sao sổ tiết kiệm có giá trị tiền gửi 180.000.000 đồng) và hiện đang ở tại nhà số 395 đường N, quận K, TP. Đà Nẵng. Còn ông T cho rằng hiện ông đang làm việc tại Ngân hàng, ngoài ra còn kinh doanh thêm một số lĩnh vực khác nên có mức thu nhập cao, có chỗ ở ổn định. Xét thấy, cả ông T và bà Q đều có đủ điều kiện để được giao trực tiếp nuôi con. Tuy nhiên quyết định việc giao con chưa thành niên cho ai trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục phải đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con. Xét thấy từ sau khi được giao trực tiếp nuôi con đến nay, bà Q đã một mình chăm sóc, nuôi dưỡng con dù không có sự cấp dưỡng từ ông T trong việc nuôi con chung nhưng bà Q đã chăm sóc, nuôi dưỡng con chu đáo, đảm bảo sự phát triển bình thường của con. Mặt khác cháu K còn quá nhỏ cần có sự chăm sóc của người mẹ. Để tiếp tục ổn định về tâm sinh lý, môi trường học tập, sinh hoạt của cháu K, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao cháu K cho bà Q nuôi dưỡng là phù hợp. Do vậy, HĐXX không chấp nhận kháng cáo của ông T, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Do kháng cáo của ông Lê Quang T không được chấp nhận nên ông T phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Quang T, giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 30/2019/HNGĐ-ST ngày 19 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận K, thành phố Đà Nẵng.

1. Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Quang T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Tiếp tục giao cho bà Nguyễn Thị Mỹ Q trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Minh K, sinh ngày 12/7/2015 cho đến khi đủ 18 tuổi. Ông Lê Quang T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

2. Về án phí:

Ông Lê Quang T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0005198 ngày 14 tháng 10 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự quận K, thành phố Đà Nẵng. Ông T đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ