vanban.org

Bản án 24/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn Hữu đối với chị Lê Thị

Buộc chị Lê Thị Hằng phải có trách nhiệm thanh toán trả anh Trần Văn Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Công ty cổ phần xây lắp Thương mại T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn Hữu đối với chị Lê Thị
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2019/DS-ST
Ngày 19 - 11 - 2019
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Ông Sái Đức Trung

Các hội thẩm nhân dân: Ông Dương Viết Vĩnh

Bà Thân Thị Quyên

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện P,

tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện VKSND huyện P, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Không

tham gia.

Ngày 19 tháng 11 năm 2019, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện

P, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 28/2019/TLST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2019 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2019/QĐXXST - DS ngày 25 tháng 10 năm 2019; theo quyết định hoãn phiên tòa số 13/2019/QĐST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty cổ phần xây lắp thương mại T - Đại diện theo pháp

luật: Ông Dương Quang Đ, chức vụ: Giám đốc.

Địa chỉ: Tổ 22, đường cách mạng tháng 8, phường P, thành phố T, tỉnh

Thái Nguyên.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Công Q, Luật sư

Văn phòng luật sư A thuộc Đoàn luật sư tỉnh Thái Nguyên (Theo văn bản ủy quyền ngày 03/12/2018)

(Có mặt)

Bị đơn: Anh Dương Đình N, sinh năm 1981

Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên;

(Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/12/2018 của nguyên đơn là Công ty cổ

phần xây lắp thương mại T (Sau đây gọi tắt là: Công ty T), đại diện theo pháp luật ông Dương Quang Đ; giấy ủy quyền ngày 03/12/2018, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa các đương sự trình bày:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Công Q trình

bày: Ngày 09/12/2016 đến ngày 24/01/2017, Công ty T có hợp đồng thuê nhân công xây dựng công trình Trụ sở văn phòng công ty đối với anh Dương Đình N. Theo đó, trong quá trình thi công anh N có ứng tiền của công ty và ngoài ra anh N còn vay tiền của công ty 02 lần, cụ thể: Lần 01: Ngày 09/12/2016, anh N vay 18.000.000 đồng; Lần 02: Ngày 24/01/2017, anh N vay 50.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền nợ gốc là: 68.000.000 đồng. Nay công ty T yêu cầu anh N trả toàn bộ số tiền gốc đã vay 68.000.000 đồng và không yêu cầu anh N phải trả lãi suất.

Bị đơn anh Dương Đình N trình bày: Tôi xác nhận có vay của công ty T

02 lần, cụ thể: Lần 01: Ngày 09/12/2016 tôi vay 18.000.000 đồng; Lần 02: Ngày 24/01/2017 tôi vay 50.000.000 đồng. Tổng cộng tôi đã vay công ty T số tiền 68.000.000 đồng. Tuy nhiên, trong thời gian đó tôi có trực tiếp làm thi công công trình xây dựng cho công ty T, nhưng công ty T không thanh toán tiền công cho tôi. Nay công ty T khởi kiện yêu cầu tôi trả số tiền 68.000.000 đồng tôi không đồng ý vì số tiền đó được trừ vào tiền công xây dựng của tôi.

Quá trình giải quyết Toà án đã tiến hành hoà giải, xong các bên vẫn giữ

nguyên quan điểm không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án nên phải đưa vụ án ra xét xử ngày hôm nay.

Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan

điểm yêu cầu anh Dương Đình N trả cho công ty T tổng số tiền còn nợ là 68.000.000đ và không yêu cầu phải trả lãi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Công ty cổ phần xây lắp thương mại

T khởi kiện anh Dương Đình N có địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp:

Đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng vay tài sản quy định tại khoản 3 Điều

26 của Bộ luật tố tụng dân sự, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về thủ tục tố tụng:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã giao các văn bản tố tụng cho các đương

sự, tiến hành lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không thành, các đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết toàn bộ vụ án nên Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Về người đại diện theo ủy quyền của Công ty T: Theo văn bản ủy quyền

lập ngày 03/12/2018 là đúng quy định. Tại phiên tòa mặc dù đại diện theo pháp luật của nguyên đơn vắng mặt nhưng người đại diện theo ủy quyền có mặt. Vì vậy, căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

Về nội dung:

4.1 Xét thấy quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa các đương

sự đều thừa nhận anh N có vay của công ty T số tiền 68.000.000đồng, vay 02 lần, cụ thể: ngày 09/12/2016 anh N vay 18.000.000 đồng, ngày 24/01/2017 anh N vay 50.000.000 đồng (nội dung cho vay tiền trừ vào tiền nhân công xây nhà khi có biên bản nghiệm thu. Khi chưa hoàn thành theo hợp đồng sẽ phải hoàn trả lại tiền vào 25/3/2017). Các bên không lập hợp đồng nhưng có phiếu chi và cụ thể trong nội dung phiếu chi cũng thể hiện ngoài việc ứng tiền nhân công xây dựng thì anh N còn vay tiền của công ty.

4.2 Xét yêu cầu của nguyên đơn thấy: Ngày 09/12/2016 đến ngày

24/01/2017 công ty T có hợp đồng thuê anh Dương Đình N xây dựng công trình Trụ sở văn phòng công ty. Theo đó, trong quá trình thi công anh N có ứng tiền của công ty và ngoài ra anh N có vay tiền của công ty 02 lần. Cụ thể: Ngày 09/12/2016 anh N vay 18.000.000 đồng, ngày 24/01/2017 anh N vay 50.000.000 đồng. Tổng cộng 68.000.000 đồng. Công ty T đã đòi anh N nhiều lần nhưng không trả. Công ty T đã thực hiện nghĩa vụ của bên cho vay và đã giao tiền tuy nhiên anh N không thực hiện nghĩa vụ của bên vay là vi phạm. Nay công ty T khởi kiện yêu cầu anh Dương Đình N phải trả số tiền đã vay là 68.000.000đ nêu trên là có căn cứ và được chấp nhận toàn bộ.

4.3 Xét yêu cầu của bị đơn thấy: Anh N xác nhận có vay của công ty T số

tiền là 68.000.000đồng, vay 02 lần, cụ thể: ngày 09/12/2016 vay 18.000.000đồng và ngày 24/01/2017 vay 50.000.000đồng. Tuy nhiên, anh N cho rằng trong thời gian đó anh trực tiếp thi công xây dựng công trình cho công ty T (có hợp đồng xây dựng), nhưng công ty không thanh toán tiền thi công cho anh. Nay anh không đồng ý trả 68.000.000đồng, vì anh đã trừ số tiền đó vào tiền thi công xây dựng, nhưng anh không có chứng cứ để chứng minh về nội dung cho vay tiền trừ vào tiền nhân công xây nhà khi có biên bản nghiệm thu. Khi chưa hoàn thành theo hợp đồng sẽ phải hoàn trả lại tiền vào 25/3/2017.

4.4 Việc anh N không thanh toán trả tiền đã vay cho công ty T là đã vi

phạm nghĩa vụ của bên vay, nay anh xác nhận số tiền đã vay còn nợ của nguyên đơn nhưng không nhất trí trả và cho rằng đã trừ số tiền đó vào công xây dựng là không phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật, nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của anh N. Buộc anh N phải trả cho công ty T tổng số tiền đã vay là 68.000.000 ®ång.

4.5 Còn về việc anh N cho rằng công ty T còn nợ anh số tiền thi công xây

dựng anh có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về lãi suất: Công ty T không yêu cầu anh Dương Đình N phải trả lãi

suất đối với khoản nợ nêu trên nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận

toàn bộ, căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc anh Dương Đình N có nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm cụ thể như sau: 68.000.000 đ x 5% = 3.400.000đ. Hoàn trả lại công ty T số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo

quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1

Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 228, 235, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân năm 2015; Điều 357, 463, 465, 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần xây lắp thương mại T.

2. Buộc anh Dương Đình N phải có trách nhiệm trả số tiền vay nợ gốc là:

68.000.000đ (Sáu mươi tám triệu đồng) cho Công ty cổ phần xây lắp thương mại T- Người đại diện theo pháp luật ông Dương Quang Đ, chức vụ: Giám đốc. Địa chỉ: Tổ 22, đường cách mạng tháng 8, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

3. Về lãi suất: Anh Dương Đình N không phải trả lãi do Công ty cổ phần

xây lắp thương mại T không yêu cầu.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan

thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Dương Đình N phải chịu 3.400.000đ

(Ba triệu bốn trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước. Công ty cổ phần xây lắp thương mại T, đại diện theo pháp luật ông Dương Quang Đ được hoàn lại số tiền 1.700.000đ (Một triệu bẩy trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P theo biên lai thu số 0000809 này 30 tháng 5 năm 2019.

5. Thông báo về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng

cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên bản án.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ