vanban.org

Bản án 24/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Bình Thủy, TP. Cần Thơ Tuyên án 09/10/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THỦY
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2019/DS-ST
Ngày: 09/10/2019
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao)

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THUỶ - TP.CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hồ Ngọc Hỷ.

2. Ông Lương Công Tiên.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Huỳnh Phương, thư ký Toà án nhân dân quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy: Ông Trần Tấn Bửu – Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 10 năm 2019 tại Toà án nhân dân quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 108/2019/TLST – DS ngày 05 tháng 6 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 574/2019/QĐXXST – DS ngày 19 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

*NGUYÊN ĐƠN: Ngân hàng Thương mại cổ phần SG TT.

Trụ sở: Đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 8, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạnh D – Chức vụ: Tổng giám đốc.

- Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Lê Nguyễn Như Th (Theo giấy ủy quyền số 211/2019/UQ-TTT ngày 20/02/2019).

*BỊ ĐƠN: Bà Trần Kim Ph, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Lê Hồng Phong, phường BT, quận BT, thành phố CT.

Đại diện nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Đại diện nguyên đơn là bà Lê Nguyễn Như Th trình bày:

Ngày 03/4/2015 bà Trần Kim Ph có ký Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – Gọi tắt là Hợp đồng) với Ngân hàng Thương mại cổ phần SG TT (Gọi tắt là Ngân hàng). Căn cứ vào thu nhập của bà Ph, Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 10.000.000 đồng, lãi suất 2,15%/tháng, lãi suất quá hạn 3,225%/tháng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng bà Ph thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 43.147.348 đồng.

Trong quá trình sử dụng từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà Ph đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 38.255.160 đồng, sau đó bà Ph không thanh toán cho Ngân hàng. Do bà Ph vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên vào ngày 01/02/2018 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.

Nay, yêu cầu Tòa án buộc bà Trần Kim Ph trả cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 30/7/2019 là 17.083.481 đồng (gồm nợ gốc 10.772.381 đồng và nợ lãi 6.311.100 đồng) và tiếp tục trả lãi theo hợp đồng từ ngày 31/7/2019.

Về phía bị đơn bà Trần Kim Ph: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn bà Ph vắng mặt. Theo xác nhận của Công an phường Bình Thủy ngày 25/6/2019 thì bà Trần Kim Ph, sinh năm 1990 có đăng ký thường trú tại địa chỉ Lê Hồng Phong, phường BT, quận BT, thành phố CT. Do đó, Tòa án đã niêm yết và tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thông báo xét xử vắng mặt, giấy triệu tập cho bà Ph theo quy định pháp luật.

Tại phiên toà hôm nay,

Đại diện nguyên đơn bà Th yêu cầu bị đơn bà Ph trả số tiền vốn và lãi tính đến ngày 09/10/2019 là 17.905.661 đồng (bao gồm tiền vốn theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng là 10.772.381 đồng, tiền lãi 7.133.280 đồng) và tiếp tục trả lãi theo hợp đồng từ ngày 10/10/2019 cho đến khi tất nợ.

Phía bị đơn bà Trần Kim Ph vẫn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thuỷ phát biểu: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, những người tham gia tố tụng chấp hành pháp luật kể từ khi thụ lý cũng như tại phiên toà. Toà án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết, tư cách những người tham gia tố tụng.

Về nội dung: Bà Trần Kim Ph có ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với Ngân hàng để vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 2,15%/tháng, lãi suất quá hạn 3,225%/tháng để tiêu dùng cá nhân, do bà Ph không thực hiện đúng cam kết nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Ph phải trả số tiền vốn và lãi tính đến ngày 09/10/2019 là 17.905.661 đồng là có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng nên đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa cá nhân với ngân hàng được pháp luật dân sự điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy đị nh tạ i khoản

3 Điề u 26, Điề u 35, Điều 39 Bộ luậ t tố tụ ng dân sự 2015.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn nhiều lần nhưng bị đơn vắng mặt, nên Tòa án tiến hành thủ tục niêm yết xét xử vắng mặt đối với bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Xét yêu cầu của nguyên đơn: Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đã ký giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần SG TT và bà Trần Kim Ph. Theo hợp đồng bà Ph vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 2,15%/tháng, lãi suất quá hạn 3,225%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Trong quá trình thực hiện hợp đồng bà Ph có thanh toán cho Ngân hàng tính đến ngày 31/01/2018 là 38.255.160 đồng. Số tiền vốn còn lại là 10.772.381 đồng từ ngày 31/01/2018 bà Ph không thanh toán cho Ngân hàng nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ gốc thành nợ quá hạn. Tính đến ngày 09/10/2019 bị đơn bà Ph còn nợ nguyên đơn tổ ng số tiề n vố n và lã i là 17.905.661 đồng (bao gồm tiền vốn theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng là 10.772.381 đồng, tiền lãi 7.133.280 đồng). Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn bà Ph phải trả số tiền trên và tiếp tục trả lãi theo hợp đồng từ ngày 10/10/2019 cho đến khi tất nợ.

Xét thấy, do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày 01/02/2018 nên nguyên đơn đã chuyển toàn bộ số nợ 10.772.381 đồng thành nợ quá hạn và tính lãi suất 3,225%/tháng là có cơ sở. Do đó cần buộc bị đơn trả số tiền 17.905.661 đồng cho nguyên đơn và tiếp tục trả lãi từ ngày 10/10/2019 cho đến khi tất nợ là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;

- Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bà Trần Kim Ph có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần SG TT tính đến ngày 09/10/2019 tổng số tiền là 17.905.661đồng (Mười bảy triệu chín trăm lẻ năm ngàn sáu trăm sáu mươi mốt đồng). (Bao gồm tiền vốn theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng là 10.772.381 đồng, tiền lãi là 7.133.280 đồng) và tiếp tục trả lãi theo hợp đồng từ ngày 10/10/2019 cho đến khi tất nợ.

Phương thức thanh toán nợ giữa các bên do cơ quan thi hành án giải quyết theo thẩm quyền.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn bà Trần Kim Ph phải nộp 895.000 đồ ng (Tám trăm chín mươi lăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn được nhận lại số tiền 380.767 đồng (Ba trăm tám mươi ngàn bảy trăm sáu mươi bảy đồng) đã nộp tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 009813 ngày 27/5/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương bị đơn được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. *Nơi nhận:

Cỡ chữ