vanban.org

Bản án 24/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 09/02/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn L phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn L 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 30-12-2017. Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy số pháo nổ và 01 túi xách màu đen; tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 500.000 đồng và chiếc điện thoại di động Nokia. (Chi tiết vật chứng ghi trong Biên bản giao … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn L - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn L phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 155 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2018/HSST
Ngày: 09-02-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diện

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Xuân Hùng

Bà Trịnh Thị Lan

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Mai Bích Huyên - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 02 năm 2018, tại Nhà văn hóa Thượng Lỗi 2 phường Lộc Vượng thành phố Nam Định tỉnh Nam Định mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 397/2017/HSST ngày 28-12-2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 397/2017/QĐ-HSST ngày 29-12-2017 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Vũ Văn L, sinh năm 1972 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: thôn A, xã M, huyện M1, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; văn hóa: lớp 7/12; nghề nghiệp: tự do; con ông: Vũ Văn Quang, sinh năm 1945 và bà: Lê Thị X, sinh năm 1950; đã ly hôn vợ và có 01 con; tiền án: ngày 19/6/2013, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 39 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (chưa được xóa án tích); tiền sự: ngày 20/9/2017, Công an phường Ngô Quyền xử phạt hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; nhân thân: Ngày 16/01/1996 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, ngày 15/10/1996 Tòa án nhân dân tỉnh Nam Hà xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, tổng hợp hình phạt với bản án ngày 16/01/1996, bị cáo phải chấp hành hình phạt 21 tháng tù, ngày 24/4/2000 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 12 tháng

1

tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, ngày 21/6/2002 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 21 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản”, ngày 24/8/2004 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đều đã được xóa án tích); bị bắt, tạm giữ ngày 30-12-2017, chuyển tạm giam ngày 02-01-2018; có mặt.

- Người làm chứng: Anh Phạm Đức L, anh Trần Duy T (có triệu tập tham gia phiên tòa, vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 30/12/2017, tổ công tác Đội Cảnh sát kinh tế Công an thành phố Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực ngã tư giao cắt giữa đường Đ và đường C thành phố N đã tiến hành kiểm tra hành chính khi Vũ Văn L đang đi xe ô tô tắc xi biển kiểm soát 18A-092.29, thu giữ của L 01 túi xách màu đen có chứa 05 vật gồm nhiều quả hình trụ màu hồng có kích thước khoảng 2,5cm x 5,5cm theo lời khai của L là pháo nổ và niêm phong theo quy định của pháp luật, đồng thời thu giữ của L 01 điện thoại di động Nokia màu đen đã cũ và số tiền 500.000 (năm trăm nghìn) đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã trưng cầu giám định vật chứng được thu giữ, niêm phong trong vụ án. Tại bản Kết luận giám định số 1094/GĐKTHS ngày 30/12/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: 05 vật hình trụ tròn cùng loại, mỗi vật có đường kính 24cm, cao 13cm gồm nhiều quả nhỏ hình trụ vỏ màu hồng kết lại, mỗi quả có đường kính 3cm, cao 6cm là pháo nổ, khi đốt gây tiếng nổ, có trọng lượng (khối lượng) là 12,247kg (mười hai phẩy hai trăm bốn mươi bảy ki lô gam).

Tại cơ quan điều tra Vũ Văn L khai: Khoảng 9 giờ ngày 30/12/2017, L gặp một người đàn ông tên D (không rõ lai lịch) tại khu vực phường Ngô Quyền thành phố Nam Định. D đã rủ L vận chuyển pháo nổ xuống cho một người ở C huyện N tỉnh Nam Định để lấy tiền công, L đồng ý. Khoảng 11 giờ cùng ngày, D đi xe máy chở L đến khu vực đường B phường L thành phố N gặp một người đàn ông đi xe máy hiệu Air Bllade (L không nhớ biển kiểm soát) nhận một túi xách du lịch màu đen, người đàn ông đã mở túi cho D, L kiểm tra bên trong có chứa pháo nổ và đưa cho L 500.000 đồng là tiền công vận chuyển pháo. Sau đó, L đi xe tắc xi biển kiểm soát 18A-0792.29, để túi du lịch chứa pháo nổ ở hàng ghế phía sau của xe để đến địa điểm giao pháo nổ thì bị Công an bắt giữ.

Bản cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 25-01-2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Vũ Văn L về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại Điều 155 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

2

Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn L khai: Ngày 30/12/2017, L được một người đàn ông có tên D (không rõ lai lịch) rủ L vận chuyển pháo nổ xuống cho một người ở C huyện N tỉnh Nam Định để lấy tiền công. Khoảng 11 giờ cùng ngày, L và D đi đến đường B thành phố N gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch) nhận 01 túi xách du lịch, bên trong có chứa 05 túi ni lông màu đen đựng pháo nổ và 500.000 đồng tiền công vận chuyển pháo. L thuê xe tắc xi biển kiểm soát 18A-0792.29 mang theo số pháo nổ, trên xe nhận được tin nhắn của D nói khi giao hàng sẽ được nhận thêm 1.000.000 đồng tiền công. Khi xe chở bị cáo đi đến ngã tư đường Đ - C thì Công an kiểm tra, bắt giữ bị cáo và thu giữ, niêm phong số pháo nổ, đồng thời thu giữ 01 điện thoại di động Nokia cũ là tài sản của bị cáo và số tiền 500.000 đồng mà D đưa cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 155, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”; không áp dụng hình phạt bổ sung; áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý vật chứng đã thu giữ.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn L không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ căn cứ kết luận: Mặc dù biết pháo nổ là hàng hóa nhà nước cấm kinh doanh nhưng ngày 30/12/2017, bị cáo đã vận chuyển 05 bánh pháo nổ có khối lượng là 12,247kg (mười hai phẩy hai trăm bốn mươi bẩy ki lô gam) để hưởng lợi số tiền 500.000 đồng. Pháo nổ nằm trong danh mục hàng hóa Nhà nước cấm kinh doanh

3

quy định tại Luật Đầu tư. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự; cố ý thực hiện hành vi vận chuyển pháo nổ, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước. Do đó, bị cáo đã phạm tội: “Vận chuyển hàng cấm”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 155 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.

Tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội “Vận chuyển hàng cấm” quy định hình phạt nhẹ hơn so với quy định tại khoản 1 Điều 155 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì các quy định có lợi cho bị cáo được thực hiện theo Bộ luật Hình sự năm 2015; do đó Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi vận chuyển pháo nổ của bị cáo là nghiêm trọng, thể hiện ở chỗ trong dịp Tết Nguyên Đán, Nhà nước đã tăng cường công tác tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân thực hiện nghiêm túc quy định của pháp luật về việc cấm kinh doanh, đốt pháo nổ, nhưng chỉ vì lợi ích vật chất của cá nhân, bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị xử lý hành chính và nhiều lần bị kết án đã được xóa án tích nhưng vẫn tiếp tục phạm tội, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; do đó được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc trong khung hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Số pháo nổ sau khi giám định hoàn lại là vật nhà nước cấm lưu hành và 01 túi xách màu đen bị cáo dùng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy; số tiền 500.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có và chiếc điện thoại di động Nokia là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí: Bị cáo Vũ Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết

4

số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 155, điểm g khoản 1 Điều 48, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn L phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn L 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 30-12-2017.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy số pháo nổ và 01 túi xách màu đen; tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 500.000 đồng và chiếc điện thoại di động Nokia. (Chi tiết vật chứng ghi trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25-01-2018 giữa Công an thành phố Nam Định và Chi cục Thi hành án thành phố Nam Định tỉnh Nam Định).

3. Án phí: Bị cáo Vũ Văn L phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Văn L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ