- Tranh chấp gì? án hình sự — "Văn Tiến T phạm tội "Giết người" - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Văn Tiến T phạm tội “Giết người”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2018/HS-ST Ngày: 17-7-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Minh Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Duy
2. Ông Nguyễn Văn Gọc
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
- D diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên Tòa: Bà Võ Thị Kim Ánh – Kiểm sát viên.
Ngày 17/7/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2018/HSST ngày 07 tháng 05 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2018/QĐXXST-HS ngày 26/6/2018 đối với bị cáo:
Văn Tiến T, sinh ngày 04/9/1997 tại Thừa Thiên Huế. Nơi cư trú: ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: làm Thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Văn Thanh S (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1960. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/02/2018 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên Tòa.
* Bị hại:
Nguyễn Văn K, sinh năm 1990 (đã chết)
Địa chỉ: ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước
* Người đại diện hợp pháp của bị hại:
Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1966
Bà Mai Thị N, sinh năm 1967
Địa chỉ: ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước
Là cha mẹ ruột của anh K
Bà Mai Thị N ủy quyền cho ông Nguyễn Văn K tham gia tố tụng
(Văn bản ủy quyền ngày 08/03/2018)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1960
Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước
* Người làm chứng:
1.Anh Nguyễn Hoàng D, sinh năm 1987
Địa chỉ: Khu phố P, phường T, thị xã Đ, tỉnh Bình Phước
2.Anh Ngô Hải S, sinh năm 1999
Địa chỉ: ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước
3.Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1996
Địa chỉ: Đội 3, C, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 12/2017, Nguyễn Văn K cho Văn Tiến T vay số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) có trả lãi định kỳ. Đến khoảng tháng 01/2018, do T không trả tiền lãi nên bị K đánh 02 lần nhưng không gây thương tích (Bút lục số 80-83, 100-103, 125-126, 165-170).
Khoảng 10 giờ ngày 14/02/2018, T và Nguyễn Văn T1 đến xưởng mộc của Nguyễn Xuân D ở ấp Phước Tân, xã Tân Phước, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước để T1 gặp D vay tiền nhưng không gặp. T1 chở Nguyễn Công T2 đi tìm D, T đi vào phòng ngủ ở xưởng mộc thì gặp Nguyễn Văn K và Nguyễn Hoàng D (thường gọi là Sáu). K hỏi T việc có ý định muốn đánh lại K phải không thì T xin lỗi và nói vẫn coi K là anh nên không có ý định đó, K nói T ngồi xuống suy nghĩ lại. Lúc này T1 và T2 quay về, T2 đi tắm, T1 bước vào phòng. T nói, T đã sai, xin K bỏ qua, nghe vậy K bắt T ngồi vào góc phòng và dùng chân đá hai cái vào hai bên mặt của T. Thấy vậy, D và T1 vào can ngăn nên K không đánh T nữa (Bút lục số 80-83, 167-168, 108-109, 121-122).
Sau đó, T1 chở T và T2 về đi bắt gà để đến ấp Năm Đô, xã Phước Tân chơi đá gà thì gặp Vũ Văn Q nên T sang xe Q chở. Khi Q chạy xe gần đến nhà T, do còn bực tức việc bị K đánh nên T nảy sinh ý định trả thù và nói Q dừng lại để T vào nhà, còn Q tiếp tục chạy xe đi. T vào bếp lấy một con dao loại Thái Lan dài 21,5cm, cán nhựa, màu vàng, lưỡi kim loại đầu nhọn trên kệ bếp bỏ vào cốp xe mô tô biển số 93M1-08377 rồi điều khiển xe quay lại xưởng mộc dừng xe trước sân, mở cốp xe lấy con dao cầm trên tay phải rồi đi vào trong phòng ngủ tìm K. Lúc này trong phòng ngoài K, D còn có Ngô Hải Sơn (thường gọi là Biu). Thấy K đang nằm ngửa trên nệm, hai tay cầm điện thoại chơi, T cầm dao đi đến, khi đứng cách K khoảng 30cm, T nói “mày chơi tao hả” rồi khom người xuống, đâm một nhát dao hướng từ trên xuống trúng vào ngực trái của K. T rút dao ra đâm tiếp một nhát nữa thì K buông điện thoại đưa hai tay lên đỡ nên trúng vào cổ tay phải của K, K la lên. Thấy K đưa tay trái vào túi áo khoác trước ngực nghĩ K lấy bình xịt hơi cay chống trả nên T cầm dao chạy ra ngoài lấy xe bỏ đi. Khi đi được một đoạn, T dừng xe lại bỏ dao vào trong cốp xe rồi tiếp tục đi vào ấp N, xã T xem đá gà. K được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Phước cấp cứu thì chết (Bút lục số 96-99, 100-103, 108-109, 112-115).
Trong lúc đang xem đá gà, T nghe tin K đã chết nên lấy xe máy đi về nhà. Trên đường về, T dừng xe lấy con dao trong cốp xe ra vứt ở vườn cao su Thuộc ấp Cây Điệp, xã T Prồi về nhà kể lại sự việc cho mẹ là bà Nguyễn Thị H nghe và đưa T đến Công an xã T P đầu thú, khai nhận hành vi của mình như trên (Bút lục số 100-103, 125-126, 134-135, 139-140).
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 60/2018/GĐPY ngày 15/2/2018 của Phòng KTHS Công an tỉnh Bình Phước kết luận: Nguyễn Văn K bị vết thương ngực trái gây thủng phổi, sốc mất máu cấp dẫn đến tử vong (vết thương ngực trái do vật sắt nhọn, bản mỏng có một lưỡi sắc tác động) [Bút lục số 33-34].
Tại Bản kết luận giám định pháp y về ADN số 36/18/TC-ADN của Viện pháp y quốc gia ngày 19/3/2018 kết luận:
- Vết màu nâu đỏ trên lưỡi của con dao gửi giám định, chất màu nâu đỏ T2 tại vị trí số 2 và 3 tại hiện trường là máu người.
- ADN T2 từ mẫu phết bề mặt lưỡi dao, mẫu chất màu nâu đỏ T2 tại vị trí số 2 và 3 tại hiện trường trùng khớp hoàn toàn với ADN của Nguyễn Văn K [Bút lục số 45-48].
Quá trình điều tra đã T2 giữ: 01 (một) con dao (loại dao Thái Lan) dài 21,5cm, cán dao bằng nhựa màu vàng có dòng chữ KIWI, dao có một lưỡi sắc dài 11,1cm, lưỡi dao cong, mũi dao nhọn, trên lưỡi dao có dính nhiều dấu vết máu màu nâu đỏ; 01 (một) quần dài đen cũ có dây thắt lưng màu đen; 01 (một) áo khoác ngoài có cài dây kéo trước, cách bờ dây kéo bên trái 3,5cm và cách vạt áo 29cm có vết đứt vải sắc gọn dài 2,5cm; 01 (một) áo sơ mi đen dài tay, phía trong tay áo được nếp lên 4 lớp, cách mép vạt áo trái 5,5cm tương ứng khuy áo thứ 4 từ trên xuống có vết đứt vải sắc gọn 2,5cm; 01 (một) áo sơ mi dài tay màu đen bên trong cổ áo có chữ D8 THE BEST QUALITY; 01 (một) quần dài (dạng quần tây) màu xám, bên trong quần có mạc màu trắng chữ LL&T size 31; 01 (một) xe mô tô hiệu Future, biển kiểm soát 93M1-08377, số máy JC54E-0047817, số khung RLHJC 5325CY024242.
Xử lý vật chứng: Công an tỉnh Bình Phước đã trả lại chiếc xe mô tô hiệu Future, biển kiểm soát 93M1-08377, số máy JC54E-0047817, số khung RLHJC 5325CY024242 cho bà Nguyễn Thị Hồng chủ sở hữu hợp pháp.
Trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, ông Nguyễn Văn K là người D diện hợp pháp của bị hại và bà Nguyễn Thị H (mẹ của bị cáo T) đã thỏa Thuận bồi thường, khắc phục hậu quả (chi phí mai táng, tổn thất tinh thần) với tổng số tiền 250.000.000 đồng. Ông K đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu bồi thường gì thêm, đồng thời có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T.
Tại Bản cáo trạng số 14/CT-VKS BP-P1 ngày 03 tháng 5 năm 2018 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Văn Tiến T về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Văn Tiến T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước đã quy kết, bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Người D diện hợp pháp của bị hại phát biểu:
Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo theo pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường số tiền 250.000.000 đồng nên không có yêu cầu gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước giữ nguyên cáo trạng số 14/CT-VKS BP-P1 ngày 03/5/2018 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước và trình bày bản luận tội đối với bị cáo:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Văn Tiến T 08 đến 09 năm tù.
Trách nhiệm dân sự: Không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị tịch T2 tiêu hủy:
01 (một) con dao (loại dao Thái Lan) dài 21,5cm, cán dao bằng nhựa màu vàng có dòng chữ KIWI, dao có một lưỡi sắc dài 11,1cm, lưỡi dao cong, mũi dao nhọn, trên lưỡi dao có dính nhiều dấu vết máu màu nâu đỏ; 01 (một) quần dài đen cũ có dây thắt lưng màu đen; 01 (một) áo khoác ngoài có cài dây kéo trước, cách bờ dây kéo bên trái 3,5cm và cách vạt áo 29cm có vết đứt vải sắc gọn dài 2,5cm; 01 (một) áo sơ mi đen dài tay, phía trong tay áo được nếp lên 4 lớp, cách mép vạt áo trái 5,5cm tương ứng khuy áo thứ 4 từ trên xuống có vết đứt vải sắc gọn 2,5cm; 01 (một) áo sơ mi dài tay màu đen bên trong cổ áo có chữ D8 THE BEST QUALITY; 01 (một) quần dài (dạng quần tây) màu xám, bên trong quần có mạc màu trắng chữ LL&T size 31.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định của cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho bị cáo, bị cáo, Đại diện hợp pháp của bị hại không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Văn Tiến T thừa nhận do trước đó vào ngày 14/02/2018 bị cáo T bị Nguyễn Văn K đánh nhiều lần nên T bực tức đã về nhà lấy một con dao Thái Lan lưỡi sắc nhọn bỏ vào cốp xe, điều khiển xe mô tô quay lại xưởng mộc của anh Nguyễn Văn D Thuộc ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước tìm K. Khi thấy K đang nằm ngửa trên nệm, hai tay đang cầm điện thoại chơi thì bị cáo dùng dao thái lan đâm một nhát vào ngực trái của K, hậu quả làm anh K bị thủng phổi, sốc mất máu cấp dẫn đến tử vong.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp lời khai của những người làm chứng về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, vật chứng của vụ án, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, kết luận giám định pháp y, đồng thời phù hợp với tất cả các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ được xét hỏi công khai tại phiên tòa.
Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người trưởng thành có đủ năng lực hành vi, năng lực chịu trách nhiệm hình sự, khi thực hiện hành vi bị cáo hoàn toàn nhận thức được rằng việc dùng dao thái lan dài 21,5cm, lưỡi dao cong, mũi dao nhọn, dài 11,1cm, cán dao màu vàng đâm vào vùng ngực của anh K là nguy hiểm đến tính mạng của anh K nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện nhằm tước đoạt mạng sống của người bị hại. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “giết người” theo khoản 2 Điều 123 BLHS.
Xét tính chất hành vi, hậu quả mà bị cáo gây ra là đặc biệt nghiêm trọng, đã xâm phạm đến tính mạng của người bị hại là khách thể đặc biệt được luật hình sự ưu tiên bảo vệ bởi lẽ mạng sống của con người là bất khả xâm phạm không ai có quyền tước đoạt một cách trái pháp luật nhưng với thái độ coi thường pháp luật bị cáo vẫn cố tình tước đoạt mạng sống của anh K, gây đau thương mất mát cho gia đình nạn nhân mà không gì bù đắp nổi, ngoài ra còn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo một thời gian khỏi đời sống xã hội mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Tuy nhiên, khi lượng hình HĐXX xem xét: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là; sau khi thực hiện tội phạm bị cáo đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, người bị hại củng có một phần lỗi, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng). Xét bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 BLHS xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là thể hiện sự nhân đạo của pháp luật XHCN.
. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng). Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch T2 tiêu hủy:
01 (một) con dao (loại dao Thái Lan) dài 21,5cm, cán dao bằng nhựa màu vàng có dòng chữ KIWI, dao có một lưỡi sắc dài 11,1cm, lưỡi dao cong, mũi dao nhọn, trên lưỡi dao có dính nhiều dấu vết máu màu nâu đỏ; 01 (một) quần dài đen cũ có dây thắt lưng màu đen; 01 (một) áo khoác ngoài có cài dây kéo trước, cách bờ dây kéo bên trái 3,5cm và cách vạt áo 29cm có vết đứt vải sắc gọn dài 2,5cm; 01 (một) áo sơ mi đen dài tay, phía trong tay áo được nếp lên 4 lớp, cách mép vạt áo trái 5,5cm tương ứng khuy áo thứ 4 từ trên xuống có vết đứt vải sắc gọn 2,5cm; 01 (một) áo sơ mi dài tay màu đen bên trong cổ áo có chữ D8 THE BEST QUALITY; 01 (một) quần dài (dạng quần tây) màu xám, bên trong quần có mạc màu trắng chữ LL&T size 31.
Đối với chiếc xe mô tô hiệu Future, biển kiểm soát 93M1-08377 mà bị cáo điều khiển, chiếc xe này là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị H nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà H là đúng pháp luật.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt 8 đến 9 năm tù là có phần nghiêm khắc.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Văn Tiến T phạm tội “Giết người”.
Áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, 54 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Văn Tiến T 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tạm giữ, tạm giam: Ngày 14/02/2018.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình của bị cáo đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng). Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
- Tịch T2 tiêu hủy: 01 (một) con dao (loại dao Thái Lan) dài 21,5cm, cán dao bằng nhựa màu vàng có dòng chữ KIWI, dao có một lưỡi sắc dài 11,1cm, lưỡi dao cong, mũi dao nhọn, trên lưỡi dao có dính nhiều dấu vết máu màu nâu đỏ; 01 (một) quần dài đen cũ có dây thắt lưng màu đen; 01 (một) áo khoác ngoài có cài dây kéo trước, cách bờ dây kéo bên trái 3,5cm và cách vạt áo 29cm có vết đứt vải sắc gọn dài 2,5cm; 01 (một) áo sơ mi đen dài tay, phía trong tay áo được nếp lên 4 lớp, cách mép vạt áo trái 5,5cm tương ứng khuy áo thứ 4 từ trên xuống có vết đứt vải sắc gọn 2,5cm; 01 (một) áo sơ mi dài tay màu đen bên trong cổ áo có chữ D8 THE BEST QUALITY; 01 (một) quần dài (dạng quần tây) màu xám, bên trong quần có mạc màu trắng chữ LL&T size 31.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo Văn Tiến T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao –VKSND cấp cao;(2) - VKSND tỉnh Bình Phước;(1) - Chi cục THADS tỉnh Bình Phước;(1) - CQĐT, PV 27 CA tỉnh Bình Phước;(2) - Trại giam CA tỉnh Bình Phước;(1) - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước;(1) - Bị cáo;(1) - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Minh Thịnh |