vanban.org

Bản án 24/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 06/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Lê Trung H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi năm 2009, xử phạt bị cáo Lê Trung H 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành hành án nhưng được trừ vào thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2017 đến ngày 07/5/2018. Xử … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Trung H phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lê Trung H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẬP THẠCH
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2018/HS-ST
Ngày 06-6-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nghĩa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Triệu Kiên Toàn

Bà Đặng Thị Liễu

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Lăng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà: Ông Hoàng Minh Đoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2018/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2018. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2018/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:

Lê Trung H, sinh năm 1982 tại tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn G, xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh Nh (đã chết) và bà Bùi Thị C; có vợ là Nguyễn Thị T, có 02 con (con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2011); tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/12/2017, tạm giam từ ngày 02/01/2018 đến ngày 07/5/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn, hiện tại ngoại (vắng mặt);

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lê Quang L, sinh năm 1965; trú tại: Thôn H, xã N, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt);

Người làm chứng:

+ Anh Nguyễn Thanh V, sinh năm 1971; trú tại: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt);

+ Anh Phạm Ngọc Th, sinh năm 1981; trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt);

+ Anh Đỗ Đình M, sinh năm 1978; trú tại: Thôn V, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt);

+ Anh Lê Anh T, sinh năm 1980; trú tại: Tổ dân phố P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 07h00 ngày 27/12/2017, Lê Trung H một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 88F6-6645 từ nhà đến Trung tâm y tế huyện Lập Thạch để uống thuốc Methadone cai nghiện. Khi tới nơi, H gặp Lê Quang L đang đứng cạnh quán nước gần cổng Trung tâm y tế. L nói với H “bớt lại cho anh cái”, H hiểu ý L là bán cho L 01 gói ma túy nên đồng ý. L lấy số tiền 200.000đ gồm 02 tờ tiền polyme mệnh giá 100.000đ đưa cho H. H cầm tiền rồi lấy trong người ra 01 gói ma túy đem theo từ trước đưa cho L. L cất gói ma túy vào trong người và đi về. Đến 07h45 cùng ngày, khi L đi đến tổ dân phố V, thị trấn L thì bị tổ công tác của Công an Lập Thạch phát hiện bắt quả tang, thu giữ: Tại túi áo khoác đang mặc của L 01 gói nhỏ bọc bằng giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng (L khai là ma túy heroine vừa mua được của H). Cơ quan Công an đã niêm phong trong bao gói ký hiệu A1; 01 mẩu giấy có ghi các con số 612, 184.

Đến 09h15 cùng ngày, căn cứ lời khai của L, tổ công tác của Công an huyện Lập Thạch phát hiện bắt quả tang tại tổ dân phố P, thị trấn L, huyện L, Lê Trung H đang có hành vi tàng trữ trái phép ma túy, thu giữ: Trong túi quần bò phía trước, bên phải của H 04 gói nhỏ bên trong chứa chất bột màu trắng, tại nền bê tông vị trí H đứng 01 gói nhỏ chứa chất bột màu trắng (H khai nhận 05 gói đều là ma túy-heroine). Số ma túy trên H mang đi để sử dụng và bán kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị bắt quả tang. Công an niêm phong bao gói ký hiệu A2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xphone màu đen có số imei là 359427064443833, 359427064443841 lắp sim số 0979648017; 01 ví giả da màu đen bên trong có 1.315.000đ (trong đó có 200.000đ do vừa bán ma túy cho L); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, biển kiểm soát 88F6-6645.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lập Thạch đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật của Lê Trung H nhưng không thu giữ tài liệu, đồ vật gì.

Ngày 30/12/2017 Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc có Văn bản số 1607/KLGĐ kết luận:

- Chất bột, cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy lẫn tạp chất, loại heroine. Trọng lượng (khối lượng) của mẫu gửi giám định là 0,0301g. Trọng lượng (khối lượng) heroine trong 0,0301g mẫu gửi giám định là 0,0213g.

- Chất bột, cục màu trắng của mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy lẫn tạp chất, loại heroine. Trọng lượng (khối lượng) của mẫu gửi giám định là 0,2871g. Trọng lượng (khối lượng) heroine trong 0,2871g mẫu gửi giám định là 0,1969g.

Cơ quan giám định đã hoàn lại mẫu vật A1 =0,0000g; A2= 0,1276g cùng toàn bộ bao gói.

Quá trình điều tra Lê Trung H khai nhận nguồn gốc số ma tuý heroine bán cho L và số ma túy heroine bị thu giữ trên người H ngày 27/12/2017 do H mua của một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ ở xã X ngày 26/12/2017 với giá 500.000đ. Sau đó H đem số ma túy heroine mua được về nhà chia thành 06 gói nhỏ để sử dụng và bán cho các đối tượng nghiện ma túy nhằm kiểm lời. Bản thân H không xác định được cụ thể địa chỉ, họ tên, nhân thân, lý lịch của đối tượng bán ma túy cho mình nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để tiến hành xác minh xử lý.

Bản Cáo trạng số 18/CT-VKS-MT ngày 28/3/2018, Viện kiểm sát nhân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Lê Trung H về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Quá trình điều tra bị cáo Lê Trung H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Lê Trung H đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Trung H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy", áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009, xử phạt: Lê Trung H từ 24 tháng đến 30 tháng tù, không phạt bổ sung, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.

Bị cáo Lê Trung H có đơn xin xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỒI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lập Thạch, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Bị cáo Lê Trung H có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo. Tại đơn xin xét xử vắng mặt bị cáo H đã thừa nhận việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch truy tố về tội mua bán trái phép chất ma túy là đúng người đúng tội, không oan sai. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người liên quan, biên bản phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định…. và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 27/12/2017, Lê Trung H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 88F6-6645 từ nhà đến Trung tâm y tế huyện Lập Thạch để uống thuốc Methadone cai nghiện. Khi tới nơi, H gặp Lê Quang L, L hỏi mua ma túy của H và được H đồng ý. L đưa 200.000 đồng cho H, H cầm tiền và đưa cho L 01 gói ma túy. Đến 07 giờ 45 phút cùng ngày khi L đi đến tổ dân phố Vĩnh Thịnh, thị trấn Lập Thạch, huyện Lập Thạch thì bị tổ công tác của Công an huyện Lập Thạch phát hiện bắt quả tang thu giữ 01 gói ma có khối lượng 0,0301 gam, trọng lượng heroine là 0,0213 gam, 01 mẩu giấy ghi các con số 612, 184. Đến 09 giờ 15 phút cùng ngày, tại tổ dân phố P, thị trấn L, huyện L Lê Trung H bị tổ công tác của công an huyện Lập Thạch phát hiện quả tang, thu giữ của H 05 gói ma túy có khối lượng 0,2871 gam, trọng lượng heroine là 0,1276 gam, 01 điện thoại di động Xphone, 01 ví giả da bên trong có 1.315.000 đồng, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 88F6-6645.

Hành vi mua bán trái phép chất ma túy do bị cáo Lê Trung H thực hiện đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định:

“1. Người nào…, mua bán trái phép chất ma túy…, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Ma tuý là tệ nạn cần phải loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội vì nó làm xói mòn đạo đức, lối sống của một bộ phận thanh niên, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy cần phải xử phạt nghiêm nhằm mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung, phục vụ tốt việc giữ vững an ninh chính trị tại địa phương.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không chịu rèn luyện để trở thành công dân tốt, không chịu làm ăn lương thiện mà lao vào con đường phạm tội. Do đó cần áp dụng hình phạt tù thật nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên quá trình điều tra bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bố bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, mẹ bị cáo được Nhà nước tặng thưởng huy chương nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên thấy bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ, lần đầu phạm tội, hiện nay bị cáo đang bị mắc bệnh hiểm nghèo nên áp dụng hình phạt theo mức thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[4]. Về việc áp dụng hình phạt bổ sung: Việc mua bán trái phép chất ma túy mà bị cáo Lê Trung H thực hiện vì mục đích thu lợi nhưng Lê Trung H chưa đem nguồn lợi gì cho gia đình, bản thân bị cáo Lê Trung H không có việc làm, không có tài sản gì nên không cần thiết phải phạt bị cáo một khoản tiền sung quỹ Nhà nước.

[5]. Đối với Lê Quang L là đối tượng nghiện ma túy, mục đích mua ma túy để sử dụng, bản thân L chưa có tiền án, tiền sự về các tội tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, số ma túy thu giữ của L chưa đủ lượng nên hành vi không cấu thành tội phạm, Cơ quan điều tra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L là có căn cứ pháp luật.

[6]. Về xử lý vật chứng:

Số tiền 200.000 đồng bị cáo H bán ma tuý cho L mà có cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

01 chiếc điện thoại di động Xphone lắp sim số 0979.648.017, 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 88F6-6645, 01 chiếc ví giả da và số tiền 1.115.000 đồng là tài sản của bị cáo Lê Trung H không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại bị cáo những tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với gói mẫu vật hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy theo quy định. Đối với 01 mẩu giấy có ghi các dãy số 612, 184 thu giữ của Lê Quang L là vật chứng chứng minh tội phạm cần được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

[7]. Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố: bị cáo Lê Trung H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi năm 2009, xử phạt bị cáo Lê Trung H 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành hành án nhưng được trừ vào thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2017 đến ngày 07/5/2018.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 200.000 đồng của Lê Trung H.

Trả lại Lê Trung H: 01 điện thoại Xphone lắp sim số 0979648017, 1.115.000 đồng, 01 ví giả da, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 88F6-6645 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tịch thu tiêu hủy 0,1267 gam heroine và toàn bộ bao gói còn lại sau giám định.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/3/2018 và biên lai thu tiền ngày 29/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch).

- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lê Trung H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ