- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thế Duy - Bị truy tố tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2018/HS-ST Ngày 27 - 4 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Xuân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Nhƣ Trang
2. Ông Vũ Xuân Hƣớng
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Trang - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thìn - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Vũ Lễ huyện Kiến Xƣơng tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai, lƣu động vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2018/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 24/2018/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Thế D sinh ngày 21/01/1994 tại xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình.
Nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: thôn N, xã H, huyện K , tỉnh T; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thế D và bà Nguyễn Thị L (đã chết); có vợ là Trƣơng Thị L và 01 con sinh năm 2013.
Tiền án, tiền sự: không;
- Nhân thân: Ngày 24/3/2011, D bị TAND huyện Kiến Xƣơng xử phạt 06 tháng tù về tội: “ Cƣỡng đoạt tài sản” theo bản án số 12/2011/HSST ngày 24/3/2011.Ngày 11/5/2011, D chấp hành xong án phạt tù về sinh sống tại địa phƣơng.
Bị tạm giữ từ ngày 09/01/2018 đến ngày 12/02/2018 chuyển tạm giam đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Kiến Xƣơng, có mặt.
Ngƣời chứng kiến:
1. Anh Lê Duy P, sinh năm 1997
Nơi cƣ trú: thôn P, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình.
2. Ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1955
Nơi cƣ trú: thôn N, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 07/01/2018, D một mình đi lên khu vực vƣờn hoa thành phố Thái Bình, mua 01 túi nilon màu trắng, có khóa kéo bằng nhựa, kích thƣớc 02 x 03cm, bên trong có tinh thể màu trắng với giá 200.000 đồng của một ngƣời đàn ông khoảng 40 tuổi không rõ tên, địa chỉ với mục đích để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua đƣợc ma túy, D cất túi ma túy vừa mua vào phần giữa lớp ni lông bọc ngoài và phần vỏ bao thuốc lá 555 màu xanh rồi bỏ vào túi quần đang mặc phía trƣớc bên phải rồi đi về và treo quần trong nhà. Đến khoảng 13 giờ 30 phút ngày 09/01/2018 D mặc chiếc quần bên trong có túi ma túy đi tìm mua dụng cụ để sử dụng, khi đi đến khu vực chợ Vông thuộc thôn N xã H thì bị tổ công tác Công an huyện Kiến Xƣơng kiểm tra, bắt quả tang. Tổ công tác đã thu tại túi quần đang mặc phía trƣớc bên phải của D 01 vỏ bao thuốc lá 555, phần giữa lớp ni lông bọc ngoài và phần vỏ bao có một gói bên ngoài gói bằng túi nilon trắng có khóa kéo nhựa kích thƣớc 2 x 3cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng trong suốt. D khai nhận đó là ma túy đá, D mua về để sử dụng cho bản thân nhƣng chƣa kịp sử dụng thì bị bắt. Tổ công tác đã yêu cầu D và mời ngƣời chứng kiến về trụ sở UBND xã H để lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, lập biên bản quản lý và niêm phong vật chứng.
Tại Kết luận giám định số 12/KLGĐ - PC 54 ngày 09/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu gửi giám định thu giữ của Nguyễn Thế D là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,7025 gam”.
Vật chứng của vụ án:
- 0,7025 gam Methamphetamine thu của D, sau giám định còn 0,5935 gam trong phong bì niêm phong số 12/KLGĐ ngày 09/01/2018 chuyển Chi cục thi hành án dân sự quản lý theo quy định pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số 24/KSĐT ngày 02/4/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình đã truy tố Nguyễn Thế D về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xƣơng vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố trong bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế D mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về nguồn gốc 0,7025 gam Methamphetamine, D khai mua của một ngƣời đàn ông khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ với giá 200.000 đồng tại khu vực vƣờn hoa thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, do không xác định đƣợc ngƣời bán nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xử lý.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu của Nguyễn Thế D 0,5935 gam Methamphetamine còn lại sau khi đã giám định trong bao niêm phong số 12/KLGĐ để tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội cải tạo, sớm trở thành ngƣời công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xƣơng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xƣơng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Thế D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của ngƣời chứng kiến.
Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thế D còn đƣợc chứng minh bằng các chứng cứ sau đây:
- Biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang do Công an huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình lập hồi 13 giờ 35 phút ngày 09/01/2018 (Bút lục số 03, 04).
- Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu thu giữ của Nguyễn Thế D do Công an huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình lập hồi 14 giờ 40 phút ngày 09/01/2018 (Bút lục số 05).
- Biên bản ghi lời khai của những ngƣời chứng kiến: anh Lê Duy P, sinh năm 1997, nơi cƣ trú: thôn P, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình; ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1955, nơi cƣ trú: thôn N, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình là những ngƣời chứng kiến việc Tổ công tác Công an huyện Kiến Xƣơng kiểm tra, thu giữ 01 gói ma túy tại túi quần đang mặc phía trƣớc bên phải của D (Bút lục số 53 đến số 59).
- Kết luận giám định số số 12/KLGĐ - PC 54 ngày 09/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu gửi giám định thu giữ của Nguyễn Thế D là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,7025 gam”( Không phẩy bảy nghìn không trăm hai mƣơi lăm gam) (Bút lục số 09).
Từ những căn cứ nêu trên có đủ căn cứ để xác định: Hồi 13 giờ 30 phút ngày 09/01/2018, tại khu vực chợ Vông thuộc thôn N xã H huyện Kiến Xƣơng, Nguyễn Thế D có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy loại Methamphetamine có khối lƣợng 0,7025 gam tại túi quần đang mặc phía trƣớc bên phải, nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của Nguyễn Thế D đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
BLHS năm 2015: Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, quy đinh:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…
c) Hêrôin, Côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Xét tính chất, mức độ và hậu quả của vụ án thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thế D là nghiêm trọng, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nƣớc đối với các chất ma túy, gây nguy hại lớn cho xã hội. Bị cáo biết Methamphetamnie là loại chất ma túy mà nhà nƣớc cấm tàng trữ, lƣu hành, ma tuý đang là hiểm hoạ cho toàn xã hội, không những gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con ngƣời, phá hoại hạnh phúc gia đình mà còn là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác, gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội nhƣng bị cáo đã bất chấp pháp luật, đạo đức xã hội vẫn mua ma túy về sử dụng. Mặt khác, xét thấy năm 2011 bị cáo D bị Tòa án nhân dân huyện Kiến Xƣơng tỉnh Thái Bình xử phạt 06 tháng tù về tội “ Cƣỡng đoạt tài sản” nhƣng bị cáo không chịu cải tạo giáo dục, rèn luyện mà tiếp tục phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” là thể hiện ý thức coi thƣờng pháp luật của bị cáo. Vì vậy cần xử phạt nghiêm khắc, áp dụng hình phạt tù buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội trong một thời gian, có nhƣ vậy mới đủ tác dụng cải tạo giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xét đến trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình - là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo D là phù hợp với quy định của pháp luật.
Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Xét thấy, về nguồn gốc 0,7025 gam Methamphetamine, D khai mua tại khu vực vƣờn hoa thành phố Thái Bình tỉnh Thái Bình, do không xác định đƣợc ngƣời bán nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xử lý.
Về xử lý vật chứng:
0,7025 gam Methamphetamine thu giữ của bị cáo, sau khi giám định còn 0,5935 gam là chất ma túy Nhà nƣớc cấm tàng trữ, cấm lƣu hành, vì vậy cần tịch thu để tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Về án phí: Bị cáo D phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế D 01 (một) năm 06(sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 09/01/2018.
2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu của bị cáo Nguyễn Thế D 0,5935 gam Methamphetamnine còn lại sau khi đã giám định trong phong bì niêm phong số 12/KLGĐ để tiêu hủy (theo Biên bản giao nhận vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Xƣơng lập ngày 05/4/2018).
3. Căn cứ vào Điều 135,136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Thế D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/4/2018.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện Kiến Xƣơng; - VKSND tỉnh Thái Bình; - Công an huyện Kiến Xƣơng; - Bị cáo; - Lƣu hồ sơ. TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH BIÊN BẢN NGHỊ ÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƢƠNG, TỈNH THÁI BÌNH Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Xuân - Hội thẩm nhân dân: Xƣơng, tỉnh Thái Bình. Kiến Xƣơng. Căn cứ vào Điều 199 và 222 Bộ luật tố tụng hình sự. HĐXX sơ thẩm đã tiến hành nghị án đối với vụ án: Lê Viết Tuệ bị VKSND huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, những ngƣời tham gia tố tụng khác tại phiên toà. HĐXX thảo luận về những vấn đề phải giải quyết trong vụ án nhƣ sau: 1. Về tội danh: - Kết quả biểu quyết: 3/3. 2. Về điều luật áp dụng: hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 10/2015/QH13 đã đƣợc sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH 14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội. - Kết quả biểu quyết: 3/3. 3. Về mức hình phạt: tính từ ngày bị tạm giữ 25/4/2017. - Kết quả biểu quyết: 3/3. 4. Về các vấn đề khác: Viết Tuệ trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. hình sự 1999; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: trong phong bì niêm phong số 140/KLGĐ để tiêu hủy (theo Biên bản giao nhận vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Xƣơng lập ngày 21/7/2017) 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Viết Tuệ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm . pháp luật. 4.5 - Kết quả biểu quyết: 3/3 HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thanh Xuân CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc + Ông Vũ Xuân Hƣớng – Phó Bí thƣ Đảng ủy xã Bình Minh, huyện Kiến + Ông Mai Xuân Trƣờng - Phó hiệu trƣởng trƣờng THCS xã Hòa Bình, huyện Vào hồi 10 giờ 40 phút ngày 23 tháng 8 năm 2017, tại phòng nghị án Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên toà, trên cơ - Tuyên bố bị cáo Lê Viết Tuệ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. - Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật - Xử phạt bị cáo Lê Viết Tuệ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù 4.1 - Áp dụng Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo Lê 4.2 - Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật -Tịch thu của Lê Viết Tuệ 0,2210 gam hêrôin còn lại sau khi đã giám định 4.3 - Về án phí: Áp dụng Điều 98, 99 Bộ luật tố tụng hình sự ; điểm a khoản 4.4 - Về quyền kháng cáo: Bị cáo Tuệ có quyền kháng cáo theo quy định của Biên bản lập xong. Hội đồng xét xử đã thống nhất thông qua và ký tên dƣới đây. Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Lê Thị Thanh Xuân |