- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị H- Tống Văn V"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Hoàng Thị H và anh Tống Văn V.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TY TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:24/2018/HNGĐ-ST Ngày: 06/7/2018 V/v: Ly hôn giữa chị H và anh V |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TY
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
* Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tư Duy
* Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Quốc Sửu
2. Ông Trần Văn Thiện
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TY.
- Đại diện VKSND huyện TY tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 7 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện TY, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2018/TLST - HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2018/QĐST-DS ngày 28/5/2018 và quyết định hoãn phiên tòa số 32/2018/QĐST-HNGĐ, ngày 14/6/2018 giữa:
1. Nguyên đơn: chị Hoàng Thị H, sinh năm 1995; nơi ĐKHKTT: thôn B, xã N, huyện TY, tỉnh Bắc Giang; hiện trú tại: thôn C, xã X, huyện D, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)
2. Bị đơn: anh Tống Văn V, sinh năm 1992; nơi cư trú: thôn B, xã N, huyện TY, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt )
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn đề ngày 12/01/2018 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị Hoàng Thị H trình bày:
Chị kết hôn với anh Tống Văn V ngày 05 tháng 8 năm 2013, trước khi kết hôn hai bên đã được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện TY, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị và anh V về chung sống với nhau ngay. Buổi đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến tháng 10/2013, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, anh V ham chơi không tu chí làm ăn. Chị đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh V không nghe. Năm 2014, do vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng nên chị phải về nhà bố mẹ đẻ của chị tại thôn C, xã X, huyện D, tỉnh Bắc Giang sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh V.
Về con chung: Trong thời gian vợ chồng chung sống đã sinh được 01 con chung là: Tống Hoàng Anh K, sinh ngày 21/7/2015, hiện đang do chị nuôi dưỡng. Ly hôn, chị có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, chị không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Về tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ chung của vợ chồng, công sức đóng góp, ruộng canh tác: chị không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay, chị H có mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu trên.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 30/5/2018, bị đơn là anh Tống Văn V trình bày: Anh nhất trí với trình bầy của chị H về ngày tháng kết hôn, điều kiện kết hôn, con chung. Trong quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, anh và chị H có xảy ra đánh cãi chửi nhau. Sau khi phát sinh mâu thuẫn khoảng 1 tháng thì chị H bỏ về nhà bố mẹ đẻ của chị H sinh sống. Vợ chồng đã ly thân từ đó cho đến nay, không quan tâm chăm sóc cho nhau. Nay anh xác định vẫn còn tình cảm với chị H và mong muốn của anh là vợ chồng về đoàn tụ. Anh chỉ đồng ý ly hôn khi chị H cam kết khi nào con chung đủ 18 tuổi thì chị H mới được kết hôn với người khác.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Tống Hoàng Anh K, sinh ngày 21/7/2015, hiện đang do chị H nuôi dưỡng. Nếu phải ly hôn, anh có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng, ruộng canh tác: anh không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay, anh Tống Văn V vắng mặt.
Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa án và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình. Đề nghị HĐXX, xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị H được ly hôn anh Tống Văn V.
Về con chung: Giao cho chị H nuôi con Tống Hoàng Anh K, sinh ngày 21/7/2015. Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Án phí sơ thẩm: Chị H phải chịu án phí sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Anh Tống Văn V là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh V.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị H kết hôn với anh Tống Văn V ngày 05/8/2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện TY, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn, hai bên có được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn, chị H và anh V về chung sống với nhau ngay. Tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2014 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, chị H và anh V có xảy ra đánh cãi chửi nhau. Năm 2014, do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên chị H phải về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể đoàn tụ được nên chị xin được ly hôn với anh V. Anh V cũng thừa nhận vợ chồng có xẩy ra mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2014. Mặt khác, tại biên bản xác minh của Tòa án thì chính quyền địa phương, cũng như gia đình anh V đều xác định vợ chồng chị H à, anh V có xẩy ra mâu thuẫn, vợ chồng đã ly thân từ năm 2014 cho đến nay, khi vợ chồng xẩy ra mâu thuẫn đã được gia đình cũng như chính quyền địa phương hỏa giải nhưng không thành. Xét thấy, cuộc sống chung của chị H à, anh V đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần xử cho chị H được ly hôn với anh V là phù hợp với quy định Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
. Về con chung: Vợ chồng chị H , anh V có 01 con chung là: Tống Hoàng Anh K, sinh ngày 21/7/2015, hiện chị H đang nuôi con. Nay chị H và anh V đều có nguyện vọng được nuôi con. Xét thấy, kể từ khi ly thân đến nay, chị H là người trực tiếp nuôi con và con chung phát triển tốt cả về thể chất và tinh thần. Còn đối với anh V thì gia đình anh V cũng như địa phương cung cấp anh V hiện không có nghề nghiệp và thu nhập. Đồng thời, hiện cháu Khoa dưới 36 tháng tuổi. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con khi giải quyết ly hôn cần giao cho chị H tiếp tục nuôi cháu Tống Hoàng Anh K là phù hợp với điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
. Về tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ chung về tài sản, công sức đóng góp ruộng canh tác: chị H và anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.
. Về án phí: chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 28; khoản 4 Điều 147 ; Điều 227, Điều 228, Điều 271; Điều 273 - Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc Hội
Xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Hoàng Thị H và anh Tống Văn V.
2. Về con chung: Giao con chung Tống Hoàng Anh K, sinh ngày 21/7/2015 cho chị Hoàng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn anh V có quyền nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Án phí: Chị Hoàng Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai số AA/2017/0001813 ngày 17 tháng 01 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện TY, tỉnh Bắc Giang.
Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bi đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết công khai bản án./.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
| Nguyễn Quốc Sửu Trần Văn Thiện | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Tư Duy |