vanban.org

Bản án 24/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Trần Quốc T.

Về con chung, tài sản chung: Không đặt ra việc giải quyết. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000đ án phí sơ thẩm ly hôn, nhưng được đối trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo Biên lai thu tiền số: AA/2016/0000852 ngày 04/6/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Thành… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Trần Quốc T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM THÀNH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 31/8/2018
V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Đức Hiệp

2. Ông Đào Xuân Tìm

- Thư ký phiên toà: Ông Đinh Quốc Cường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kim Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 128/2017/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29a/2018/QĐXX-ST ngày 06 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1977. Địa chỉ cư trú: thôn Q, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Trần Quốc T, sinh năm 1972. Địa chỉ cư trú: thôn Q, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 01 tháng 6 năm 2018 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị và anh Trần Quốc T kết hôn năm 1995 trên cơ sở tự nguyện, được đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hải Hưng(nay là huyện K, tỉnh Hải Dương). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hoà thuận đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do hai bên không hợp nhau về tính tình, không bảo ban nhau được cách làm ăn kinh tế cũng như sinh hoạt hàng ngày nên vợ chồng thường xuyên xảy ra va chạm đánh cãi chửi nhau. Ngoài ra, do anh T không chịu làm ăn mà lao vào con đường chơi bời cờ bạc, dẫn đến kinh tế gia đình bị sa sút. Chị T và gia đình nhiều lần động viên khuyên bảo anh T, song anh T không thay đổi. Từ đó, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Đến tháng 5/2013, chị và anh T lại xảy ra mâu thuẫn, lần này chị T xác định không thể tiếp tục chung sống cùng anh T được nữa, nên chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở và sống ly thân từ đó đến nay vợ chồng không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay chị T xét thấy thực sự tình cảm giữa chị và anh T không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn anh T để giải phóng cho đôi bên khỏi giàng buộc.

Tại đơn trình bày ý kiến ngày 14/7/2018, anh Trần Quốc T trình bày: Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị T vào năm 1995 trên cơ sở tự nguyện và được đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Sau khi kết hôn, anh và chị T chung sống hòa thuận được hơn 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do vợ chồng không tâm đầu ý hợp luôn xảy ra bất đồng quan điểm sống và cách làm ăn sinh hoạt hàng ngày, dẫn đến vợ chồng thường xuyên đánh cãi chửi nhau. Đến tháng 5/2013, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, chị T đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở và hai bên đã sống ly thân từ đó đến nay không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị T xin ly hôn, anh hoàn toàn đồng ý.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Trần Quốc T cùng xác định vợ chồng có 01 con chung là Trần Ngọc An, sinh ngày 04/9/1996. Hiện nay con chhung của chị T và anh T đã đến tuổi trưởng thành và tự lập được, nên chị T và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ chung: Chị T và anh T cùng xác định vợ chồng không có tài sản chung, tài sản riêng, công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, đại diện VKS nhân dân huyện Kim Thành tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng thủ tục tố tụng dân sự, Nguyên đơn, Bị đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự.

- Về việc quyết vụ án: áp dụng khoản 01 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí lệ phí Tòa án. Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Trần Quốc T; Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ chung: Không đặt ra việc giải quyết; Về án phí: Chị T phải nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Anh Trần Quốc T là Bị đơn đơn trong vụ án có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Trần Quốc T kết hôn với nhau trên tinh thần tự do tìm hiểu và tự nguyện đi đến hôn nhân, được đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, do hai bên không hợp nhau về tình tình, thường xuyên bất đồng về quan điểm sống, nên vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn. Từ năm 2013 đến nay, chị T và anh T đã sống ly thân hoàn toàn, cắt đứt mọi quan hệ về tình cảm và kinh tế không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị T xin được ly hôn anh Trần Quốc T là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị T và anh T có 01 con chung là Trần Ngọc An, sinh năm 1996. Hiện nay con chung của anh T và chị T đã trên tuổi trưởng thành, nên không đặt ra việc giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ chung: Chị T và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ chung. Vì vậy, không đặt ra việc giải quyết.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Chị Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu ly hôn nên phải nộp tiền án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 01 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, khoản 01 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyªn xö:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Trần Quốc T.

2. Về con chung, tài sản chung: Không đặt ra việc giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000đ án phí sơ thẩm ly hôn, nhưng được đối trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo Biên lai thu tiền số: AA/2016/0000852 ngày 04/6/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Chị T đã nộp đủ án phí sơ thẩm ly hôn.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Kim Thành;

- Chi cục THA Dân sự huyện Kim Thành;

- UBND xã K, huyện K;

- Lưu: Hồ sơ, VP.

Nguyễn Thị Ngọc Bích

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đào Xuân Tìm - Bùi Đức Hiệp

Nguyễn Thị Ngọc Bích

Cỡ chữ