vanban.org

Bản án 24/2018/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe của bà Hình Thị L đối với ông Trần Quốc T, bà Nguyễn Thị L, anh Trần Văn P (Vũ P).

Buộc ông Trần Quốc T, bà Nguyễn Thị L, anh Trần Văn P (Vũ P) bồi thường thêm cho bà Hình Thị L 20.253.000 đồng, trong đó tiền thuốc còn lại chưa giao theo thỏa thuận là 5.500.000 đồng; tiền tàu xe tái khám là 3.100.000 đồng, tiền ăn uống bồi dưỡng là 11.653.000 đồng; bác một phần yêu cầu của bà Hình… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Hình Thị L với Trần Văn P, Trần Quốc T, Nguyễn Thị L"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe của bà Hình Thị L đối với ông Trần Quốc T, bà Nguyễn Thị L, anh Trần Văn P (Vũ P).
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 584 Bộ luật Dân sự; Điều 585 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 24/2018/DS-ST
Ngày: 02-08 - 2018
“v/v bồi thường thiệt hại về sức khỏe”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tới

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hồ Thị Hoa

2. Ông Trần Văn Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đông Hải, Kiểm sát viên.

Trong các ngày 26 tháng 7 và ngày 02 tháng 8 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện An Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 175/2017/TLST - DS ngày 30 tháng 10 năm 2017 về “tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2018/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Hình Thị L, sinh năm 1963 (vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Hình Thị L: Ông Võ Văn L, sinh năm 1963, theo văn bản ủy quyền ngày 17/12/2017 ( có mặt ).

Cùng địa chỉ: ấp M Đ A, xã V K, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.

* Bị đơn: - Anh Trần Văn Ph (Văn P), sinh ngày 10/03/2000 (có mặt).

- Ông Trần Quốc Tuấn, sinh năm 1961 (có mặt).

- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1962 (có mặt).

Cùng địa chỉ: ấp K Q A, xã V K, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 27/6/2017, 18/7/2017, 21/8/2017, đơn khởi kiện bổ sung 31/8/2017, 19/10/2017 và biên bản hòa giải ngày 14/12/2017, 03/4/2018 nguyên đơn bà Hình Thị L và người đại diện theo ủy quyền của bà Hình Thị L: Ông Võ Văn L trình bày và yêu cầu như sau:

Vào ngày 17/01/2017 bà Hình Thị L đi xe cùng với Huỳnh Văn P từ thị trấn Thứ 11 về xã Vân Khánh, khi đến cầu kênh tư thì bị Trần Văn P sinh ngày 10/03/2000 điều khiển xe chạy ngược chiều và lấn sang phần đường bên trái của P dẫn đến tong vào xe của anh P có chở bà L phía sau làm cho bà L gãy chân trái, sau khi tai nạn xảy ra bà L được đưa đến bệnh viện Đa khoa huyện An Minh và bệnh viện Đa khoa huyện An Minh chuyển đến bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên Giang điều trị vết thương hết 07 ngày, sau khi xuất viện ông T thỏa thuận bồi thường cho bà L 13.000.000 đồng và ông T đã giao cho bà L 6.500.000 đồng còn lại 6.500.000 dồng ông T không chịu bồi thường. Nay bà L yêu cầu ông T, bà L, anh P bồi thường các khoảng như sau:

- Tiền thuốc điều trị 13.000.000 đồng;

- Tiền tái khám 7 lần là 7.000.000 đông;

- Tiền ăn bồi dưỡng 8 tháng đã qua là 24.500.000 đông.

Tổng cộng 44.500.000 đồng, khấu trừ số tiền ông T đã đưa trước 6.500.000 đồng, còn lại 38.000.000 đồng. Ngoài ra tôi còn phải tái khám định kỳ, tôi yêu cầu thành vụ kiện khác.

* Tại tờ tường trình ngày 08/01/2017 và biên bản hòa giải ngày 14/12/2017, 03/4/2018 bị đơn ông Trần Quốc T trình bày:

Ngày 17/01/2017 al con tôi Trần Văn P có điều khiển xe chạy ngược chiều với xe của Huỳnh Văn P và có xảy ra tai nạn giao thông ở đoạn cầu kênh tư làm cho bà L gãy chân trái. Tại Công an huyện An Minh tôi và bà L thỏa thuận, tôi bồi thường cho bà L số tiền điều trị thương tích là 12.000.000 đồng, sau đó tôi có giao cho bà L 6.500.000 đồng, còn lại 5.500.000 đồng tôi chưa giao cho bà L, lý do: Con tôi bị bệnh tôi phải lo trị bệnh cho con.

Theo yêu cầu của bà L tôi có ý kiến như sau: Tôi thống nhất bồi thường cho bà L tiền thuốc còn lại chưa giao là 5.500.000 đồng, tiền tái khám là 3.500.000 đồng, ngoài ra tôi không bồi thường gì thêm.

* Tại tờ tường trình ngày 08/01/2017 và biên bản hòa giải ngày 14/12/2017, 03/4/2018 bị đơn bà Nguyễn Thị Liễu trình bày:

Bà Liễu thống nhất theo lời trình bày của ông Trần Quốc T ở phía trên. Bà L thống nhất cùng với ông T bồi thường cho bà L tiền thuốc còn lại chưa giao là 5.500.000 đồng, tiền tái khám là 3.500.000 đồng, ngoài ra tôi không bồi thường gì thêm.

* Bị đơn Trần Vũ P (Văn P) có đơn xin vắng mặt, không có lời trình bày.

* Tại phiên tòa:

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Hình Thị L: Ông Võ Văn L yêu cầu bị đơn bồi thường tiền thuốc 12.000.000 đồng, khấu trừ 6.500.000 đồng đã đưa trước, còn lại 5.500.000 đồng; tiền dầu (phương tiện vỏ máy) đi tái khám ở bệnh viện huyện An Minh 01 chuyến là 100.000 đồng, tái khám ở bệnh viện tỉnh Kiên Giang 06 chuyến (tính đến ngày 20/8/2017), tổng số tiền là 3.000.000 đồng, cộng chung là 3.100.000 đồng; tiền ăn, uống bồi dưỡng 08 tháng là 24.500.000 đồng. Tổng các khoản là 33.100.000 đồng.

- Bị đơn ông Trần Quốc T, bà Nguyễn Thị L, Trần Văn P thống nhất tiếp tục bồi thường tiền thuốc theo thỏa thuận, còn lại chưa giao là 5.500.000 đồng; tiền đi tái khám là 3.100.000 đồng; không chấp nhận bồi thường tiền ăn, uống bồi dưỡng 08 tháng là 24.500.000 đồng.

- Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật:

Thẩm phán tuân thủ đúng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn ông Trần Quốc T, bà Nguyễn Thị L, Trần Văn P đã thực hiện đúng và đầy đủ theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;

+ Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, buộc phía bị đơn bồi thường cho là L tiền thuốc còn lại chưa giao theo thỏa thuận là 5.500.000 đồng; tiền thuê bao xe và chi phí vỏ máy đi tái khám là 3.100.000 đồng; chấp nhận một phần yêu cầu về ăn, uống bồi dưỡng.

.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành công khai chứng cứ và hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau nhưng không thành. Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Về quan hệ pháp luật: HĐXX xét thấy, Ngày 17/01/2017 al Trần Văn P điều khiển xe mô tô chạy ngược chiều với xe mô tô do anh Huỳnh Văn P điều khiển có chở phía sau là bà Hình Thị L và có xảy ra tai nạn giao thông ở đoạn cầu Kênh Tư làm cho bà L gãy chân trái, nên HĐXX xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe.

Về nội dung trong vụ án: Thực tế Ngày 17/01/2017 al Trần Văn P điều khiển xe mô tô chạy ngược chiều với xe mô tô do anh Huỳnh Văn P điều khiển có chở phía sau là bà Hình Thị L và có xảy ra tai nạn giao thông ở đoạn cầu Kênh Tư làm cho bà L gãy chân trái, bà L được đưa đến bệnh viện Đa khoa huyện An Minh và chuyển đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang điều trị vết thương hết 07 ngày. Sau khi điều trị vết thương ổn định thì ông Lùng đại diện cho bà L (ông L là chồng bà L) cùng với ông T thỏa thuận (không lập thành văn bản), ông T bồi thường cho bà L 12.000.000 đồng và ông T đã giao cho bà L 6.500.000 đồng, còn lại 5.500.000 đồng ông T chưa giao cho bà L nên phát sinh tranh chấp. Bà L viết đơn khởi kiện yêu cầu anh P, ông T và bà L bồi thường thiệt hại là phù hợp theo quy định tại khoản 2 điều 586 của Bộ luật dân sự, vì tại thời điểm gây ra tai nạn anh P chưa đủ 18 tuổi.

Tại phiên tòa ông L yêu cầu ông T, bà L, anh P bồi thường cho bà L tiền thuốc điều trị vết thương còn lại là 5.500.000 đồng; tiền tàu xe đi tái khám tính đến ngày 20/8/2017, tổng số tiền là 3.100.000 đồng; tiền ăn, uống bồi dưỡng 08 tháng là 24.500.000 đồng. Tổng các khoản là 33.100.000 đồng.

Tại phiên tòa ông T, bà L, anh P thống nhất bồi thường thêm cho bà L tiền điều trị vết thương còn lại 5.500.000 đồng, tiền tái khám là 3.100.000 đồng, cộng hai khoản là 8.600.000 đồng, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Xét về số tiền ăn, uống bồi dưỡng của bà L, tuy không có sự chỉ định của Bác sĩ nhưng trên thực tế bà L có mua sữa calxi uống để nhanh phục hồi vết thương theo khuyến cáo của Bác sĩ và thực tế bà L đã cung cấp 04 hóa đơn mua sữa Calxi với tổng số tiền là 11.653.000 đồng. Do đó, trong khi thảo luận, Hội đồng xét xử thống nhất buộc phía ông T, bà L, anh P hỗ trợ cho bà L tiền ăn, uống bồi dưỡng từ khi tai nạn xảy ra đến nay là 11.653.000 đồng.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thống nhất: Chấp nhận đề nghị của kiểm sát viên cũng như một phần yêu cầu của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, áp dụng khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585 và Điều 590 của Bộ luật dân sự. Buộc ông Trần Quốc T, bà Nguyễn Thị L, anh Trần Văn P (Vũ P) bồi thường thêm cho bà Hình Thị L 20.253.000 đồng, trong đó tiền thuốc còn lại chưa giao theo thỏa thuận là 5.500.000 đồng; tiền tàu xe tái khám là 3.100.000 đồng, tiền ăn uống bồi dưỡng là 11.653.000 đồng; bác một phần yêu cầu của bà Hình Thị L với số tiền ăn uống bồi dưỡng là 12.847.000 đồng (33.100.000đ - 20.253.000đ).

Về án phí: Ông Trần Quốc T, bà Nguyễn Thị L, anh Trần Văn P bị buộc bồi thường thiệt hai nên phải chịu án phí dân sự sơ thầm có giá ngạch là: 20.253.000đ x 5% = 1.012.650 đồng; bà Hình Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 2 Điều 586 và Điều 590 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe của bà Hình Thị L đối với ông Trần Quốc T, bà Nguyễn Thị L, anh Trần Văn P (Vũ P).

1. Buộc ông Trần Quốc T, bà Nguyễn Thị L, anh Trần Văn P (Vũ P) bồi thường thêm cho bà Hình Thị L 20.253.000 đồng, trong đó tiền thuốc còn lại chưa giao theo thỏa thuận là 5.500.000 đồng; tiền tàu xe tái khám là 3.100.000 đồng, tiền ăn uống bồi dưỡng là 11.653.000 đồng; bác một phần yêu cầu của bà Hình Thị L với số tiền ăn uống bồi dưỡng là 12.847.000 đồng.

2. Về án phí: Ông Trần Quốc T, bà Nguyễn Thị L, anh Trần Văn P bị buộc bồi thường thiệt hai nên phải chịu án phí dân sự sơ thầm có giá ngạch là: 1.012.650 đồng; bà Hình Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

3. Quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (02/8/2018).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ