- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Thị Xuân phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hìn…"
- Tòa quyết gì? Đặc điểm vật chứng nói trên được ghi theo phiếu nhập kho vật chứng số PNKVC 22 ngày 19/12/ 2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2017/HSST Ngày :11/01/2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Xuân Khuê và bà Lường Thị Nhung;
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Phương Thảo, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên toà: Ông Lường Văn Doan, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở TAND huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2018/HSST ngày 19 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/QĐXX-ST ngày 28/12/2017 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lường Thị X; tên gọi khác: Cà Thị X; sinh ngày 30/12 năm 1978 tại xã C, huyện T,tỉnh Đ; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản K, xã C, huyện T tỉnh Đ; dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nông Nghiệp; trình độ văn hoá: Không; con ông: Cà Văn U, sinh năm 1949; con bà: Quàng Thị P, sinh năm 1950, có chồng là Lường Văn T và có 3 người con; tiền sự: Không; tiền án: Không; tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/11/2017. Có mặt.
+ Người bào chữa cho bị cáo:Ông Lê Đình Thu,Luật sư cộng tác viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ ngày 04/11/2017, tổ công tác Công an huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên làm nhiệm vụ khu vực bản K, xã C, huyện T, phát hiện và bắt quả tang Lường Thị X , sinh năm 1978, trú tại bản K, xã C, huyện T đang tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong túi vải màu đen X đang đeo trên người 01 gói hê rô in có trọng lượng 0,28 gam; tạm giữ 6.510.000đ. X khai nhận đó là hê rô in X mua của một người không quen biết nhằm mục đích chữa bệnh cho gia súc.
Tại cơ quan điều tra, Lường Thị X khai nhận: Khoảng 19 giờ ngày 03/11/2017, X từ nhà ra bản K, xã C để trông coi máy phay ruộng của gia đình. Khi đến cầu treo thuộc bản H, xã C thì gặp một người đàn ông không quen biết đang đi ngược chiều. Gặp X, người đó hỏi: Có mua thuốc không. X hỏi lại: Thuốc gì, người đó nói :” Thuốc này chữa bệnh cho gà vịt tốt lắm và lấy ra một gói nhỏ gói bằng mảnh túi ni lông màu xanh đưa cho X xem . X hỏi gói gì, thì người đó trả lời là hê rô in, bán giá 100.000đ. Xuân trả giá 50.000đ, người đó nhất trí bán.X trả tiền rồi nhận gói hê rô in cất vào túi vải đeo trên người rôi đi ra ruộng trông máy phay. Đến ngày 04/11/2017, X đeo cái túi đựng gói hê rô in nói trên vào người. Đến 10 giờ khi đang đi bộ trên quốc lộ 279 thuộc bản K, xã C thì bị phát hiện và thu giữ.
Ngày 04/11/2017, cơ quan điều tra đã tiến hành mở niêm phong xác định trọng lượng, lấy mẫu giám định vật chứng. Số Hê rô in thu được của Lường Thị X được xác định trọng lượng là 0,28 gam
Tại bản Kết luận giám định số: 88/GĐ-PC-54 ngày 16/11/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện biên đã kết luận: Mẫu vật gửi giám định trích ra từ vật chứng thu giữ của Lường Thị X là chất ma túy; loại hê rô in; trọng lượng vật chứng thu giữ là 0,28 gam.
Tại bản Cáo trạng số:06/QĐ - VKS - HS ngày 11/12/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã truy tố bị cáo Lường Thị X về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 BLHS. Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999; khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015; điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015, xử phạt bị cáo Lường Thị X từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Áp dụng Điều 41 BLHS, Điều 76 BLTTHS, tuyên hủy 01 gói niêm phong hêrôin. Không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Áp dụng Điều 99 BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/QH, miễn án phí HSST cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí quan điểm truy tố và tình tiết giảm nhẹ như ý kiến của vị đại diện VKS, đề nghị HĐXX xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm g khoản Điều 46 BLHS vì bị cáo mua về nhưng chưa dùng, thiệt hại chưa xảy ra và áp dụng thêm điều 60 BLHS cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất và không nhất thiết phải cách ly bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơp vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang của tổ công tác Công an huyện Tuần Giáo tỉnh Điện Biên lập hồi 10 giờ ngày 04/11/2017 (bút lục số 01) thể hiện: Trong khi thực hiện nhiệm vụ tại khu vực bản Kép, xã C, đã phát phát hiện và bắt giữ Lường Thị X, thu giữ của Xuân 01 gói hê rô in cất giấu trong túi vải đeo trên người. Tại biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng vật chứng lập ngày 04/11/2017 cho thấy : Trọng lượng 08 gói chất bột nghi hê rô in qua cân xác định là 0,28 gam. Qua giám định được kết luận là chất ma túy, loại hê rô in.
Các trình tự thủ tục trên được tiến hành đúng qui định của Bộ luật tố tụng hình sự và thể hiện được tính chính xác, khách quan của vụ án. Tại giai đoạn điều tra bị cáo thừa nhận số hê rô in đó của bị cáo mua về để sử dụng làm thuốc chữa bệnh cho gia cầm. Nguồn gốc: Bị cáo mua của một người không quen biết vô tình gặp ở bản H, xã C. Tại phiên tòa, bị cáo khai thừa nhận hành vi phạm tội và bị bắt quả tang như đã khai nhận tại giai đoạn điều tra. Bị cáo khai mục đích tàng trữ hê rô in là để chữa bệnh cho gia cầm.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp nhau, phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản mở niêm phong và xác định trọng lượng vật chứng; bản kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ lời khai của bị cáo tại phiên tòa đối chiếu với các chứng cứ trên có đủ căn cứ xác định: 01 gói hê rô in thu giữ trên người bị cáo là của bị cáo Lường Thị X nên cáo buộc của VKS là chính xác không oan sai.
Hành vi tàng trữ 0,28 gam hêrôin để sử dụng của Lường Thị X đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm được qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trước ngày 01/1/2018, ngày BLHS năm 2015 có hiệu lực. So với khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999, khung hình phạt qui định tại khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 nhẹ hơn nên cần áp dụng khoản 3 Điều 7 BLHS 2015 để áp dụng có lợi cho bị cáo.
Bởi vậy, VKSND huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản nêu trên là chính xác.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm sự độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng đến sức khỏe, ảnh hưởng đến nòi giống dân tộc nên cần xử lý nghiêm minh.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân bị cáo thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, không có tình tiết giảm nhẹ TNHS. Bản thân chưa có tiền án, tiền sự. Xét lời khai của bị cáo về mục đích mua hê rô in của bị cáo về chữa bệnh cho gà là không có độ tin cậy vì bản thân bị cáo nhận thức được tính nguy hiểm của ma túy đối với xã hội, hậu quả pháp lý bản thân phải chịu trước pháp luật, giữa cái được cái mất của hành vi nên không thể có sự lựa chọn cách xử sự bất hợp lý như vậy được. Bị cáo thực hiện hành vi mua hê rô in về tàng trữ là tội phạm đã hoàn thành, tỉnh nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra nên không chấp tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm g. Bởi vậy, không chấp nhận tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo và thiệt hại chưa xảy ra theo như đề nghị của vị đại diện VKS và luật sư bào chữa đối với bị cáo. Do đó không đủ căn cứ để áp dụng điều 60 BLHS đối với bị cáo. hiện. Bởi vậy, cần áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người tốt.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập nên cần miễn cho bị cáo.
Đối với người đàn ông mua hộ hê rô in cho bị cáo, bị cáo khai không biết tên tuổi địa chỉ nên cơ quan điều tra không có cơ sở xử lý.
Vật chứng vụ án là 01 gói niêm phong hê rô in cần áp dụng Điều 41 BLHS và Điều 76 BLTTHS tuyên tịch thu để hủy.
Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 3 Điều 7; Điều 67 BLHS 2015; Điều 106 BLTTHS 2015: Tuyên bố bị cáo Lường Thị X( Cà Thị X) phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lường Thị X 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 04/11/2017. Vật chứng: Áp dụng Điều 41 BLHS, Điều 76 BLTTHS, tuyên tịch thu để hủy 1 gói hê rô in được niêm phong hê rô in.
Đặc điểm vật chứng nói trên được ghi theo phiếu nhập kho vật chứng số PNKVC 22 ngày 19/12/ 2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo. Án phí: Áp dụng điều BLTTHS;Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH,miễn án phí HSST cho bị cáo.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Tuần Giáo; - Công an huyện Tuần Giáo; - Chi cục THADS huyện Tuần Giáo; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Thị Thương |