vanban.org

Bản án 24/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An Tuyên án 26/04/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Th.

Nghị quyết 144/QH13; Khoản 3 Điều 7; Khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt: Phạm Thị Th. 08 ( Tám ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 16 tháng, Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Th.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

------------
Bản án số: 24/ 2017/ HSST
Ngày: 26/4/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Đức Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Đình Nhàn. Hưu trí.

Trú tại: Xã Xuân Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

2/ Bà Trần Thị Minh Hợi. Giáo viên nghỉ hưu.

Trú tại: Thị trấn Đô Lương, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Văn Đạt – Cán bộ Tòa án nhân huyện Đô Lương

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương – tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh– Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An Mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 15/2017/ HSST ngày 10/3/2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Thị Th. Sinh ngày 02/ 6/ 2000

Nơi ĐKHKTT: Xóm Gia Khách, xã Hiến Sơn, huyện Đô Lương, Nghệ An.

Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không

Trình độ văn hóa: 10/12;

Nghề nghiệp: Học sinh.

Con ông: Phạm Văn Trình ( Chết ).

Con bà: Nguyễn Thị Nguyệt, sinh năm 1970.

Chồng con: chưa có.

: Không.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

* Đại diện hợp pháp của bị cáo:

Bà Nguyễn Thị Nguyệt, sinh năm 1970 ( Mẹ đẻ bị cáo ) Trú tại: Xóm Gia Khách, xã Hiến Sơn, huyện Đô Lương, Nghệ An.(có mặt)

* Luật sư bào chữa của bị cáo: Ông Lê Đăng Tế, Luật sư thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Nghệ An. ( Có mặt )

*Người bị hại:

Anh Lê Xuân Định, Sinh năm 1983. Trú tại: Xóm Gia Khách, xã Hiến Sơn, huyện Đô Lương, Nghệ An.(có mặt)

NHẬN THẤY

Bị cáo Phạm Thị Th bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 07/9/2016 Phạm Thị Th đi học về nhà tại xóm Gia Khách, xã Hiến Sơn, huyện Đô Lương thì thấy chị Nguyễn Thị Nguyệt ( Mẹ của Th ) và em trai đang vận chuyển lúa từ ngoài đồng về nhà. Thấy Th chị Nguyệt nói: " Con lấy cái dao hay cái kéo cắt dây buộc bì để phơi lúa không lúa bị hỏng". Nghe mẹ nói vậy, Th vào trong nhà lấy ra một con dao rọc giấy để cắt dây buộc bì. Sau khi xong việc, Th ra ruộng lúa ở đồng Bàu Mới thuộc xóm Gia Khách, xã Hiến Sơn giúp mẹ chở lúa về nhà. Khi Th quay ra chở chuyến thứ hai thì thấy anh Lê Xuân Định, sinh năm 1983 cùng xóm Gia Khách đi xe mô tô đi vượt qua xe mình rồi dừng chổ chị Nguyệt đang đóng lúa. Lý do anh Định gặp chị Nguyệt là sau khi đánh bóng chuyền về, anh Định nghe vợ mình là Đặng Thị Tâm kể lại, lúc chiều ở nhà chị Tâm và chị Nguyệt lời qua tiếng lại với nhau. Gặp chị Nguyệt, anh Định nói: " Nguyệt răng mi ác rứa, răng nói vợ con tau lưu thai", " Coi chừng, một lần nữa là tau đập dép vô mặt". Chị Nguyệt cãi lại: " tau không nói rứa, tau nói vợ mi đang có thai ở cho có đạo đức". Anh Định nói: " Mi cãi à" vừa cúi xuống tay phải cần dép ở dưới chân lên đánh chị Nguyệt, đánh cái thứ hai thì chị Nguyệt túm được dép. Anh Định nói : " Chị trả dép cho tui về, tui không muốn nói chuyện với chị nữa nhưng chị Nguyệt không chịu trả. Lúc này khoảng 17 giờ 30 phút anh Định và chị Nguyệt đang giằng co chiếc dép thì Th vừa đến, dừng xe tiến nhanh lại, tay rút con dao rọc giấy từ phía sau túi quần ra, đưa lưỡi dao ra và nói với anh Định: " Chú con người lớn, đừng ăn hiếp đàn bà phụ nữ", rồi nói với chị Nguyệt: " Mẹ à, đừng nói chuyện với loại chó má nớ". Nghe vậy, Định quay lại nói với Th: " Con Th hây, mi ăn nói mất nết, coi chừng tau tát cho đó". Th trả lời: " Tau thách mi đó". Rồi Định lấy chiếc dép còn lại lên để đánh Th nhưng bị chị Nguyệt lao vào giằng lấy. Trong lúc Định và Nguyệt đang giằng co với nhau thì Th đứng phía sau lưng chếch phía bên trái anh Định, dùng dao rạch ba nhát vào tay trái và một nhát vào lưng anh Định làm anh Định bị thương. Lúc này chị Tâm đến và nói " Răng mi con nít mà ác rứa" rồi cởi áo của anh Định ra buộc lại vết thương đưa lên trạm xá xã sơ cứu, sau đó chuyển lên Bệnh viện đa khoa Hữu nghị tỉnh Nghệ An để điều trị.

Vết thương trên cơ thể anh Định do Th dùng dao rọc giấy gây nên được xác định là: 01 sẹo vết thương nằm xiên 1/3 giữa ngoài cánh tay trái kích thước ( 4,5 x 0,2 ) cm; 01 sẹo thương nằm ngang 1/3 dưới sau trong cánh tay trái, kích thước ( 4,2 x 0,2 ) cm; 01 sẹo thương trùng vết mổ hình chữ S 1/3 trên ngoài sau cẳng tay trái, kích thước ( 14,7 x 0,2 ) cm gây tỏn thương đứt gân cơ thần kinh quay, cẳng tay trái đã được phẩu thuật; 01 sẹo vết thương mỏng giữa lưng trái, kích thước ( 12,5 x 0,2 ) cm. Tại bản kết luận giám định số 272/TTPY ngày 14/10/2016 của Trung tâm pháp y Sở y tế Nghệ An kết luận: Tổn hại sức khỏe do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 28% ( Hai mươi tám phần trăm )

:

thu giữ 01 con dao rọc giấy có lưỡi dao bằng sắt dài khoảng 4 cm, phần chuôi dao bằng nhựa màu hồng dài khoảng 10 cm, cán dao có lưỡi đẩy dao ra và kéo vào khi cần sử dụng; 01 đôi dép nam màu đen có quai hậu nhãn mác ( HUA SU MEI ) đã qua sử dụng; 01 chiếc áo phông màu đỏ, ống tay ngắn, có viền cổ và viền ống tay áo màu xanh, phía trước bên phải có chữ FC PINOCHIO, phía sau có số 8 màu xanh có 3 vết rách sắc gọn ở bên ống tay trái và 04 vết rách ở phía sau lưng, áo có nhiều vết màu nâu thẫm. Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đô Lương đã chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương bảo quản.

:

7.183

(Bảy triệu một trăm tám mươi ba

), bà Nguyễn Thị Nguyệt

3

(Ba

) tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương.

Tại bản Cáo trạng số 22/VKS- HS ngày 10/3/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương truy tố Phạm Thị Th về tội “ Cố ý gây thương tích” Khoản 2 điều 104 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến xác định nội dung vụ án, hành vi phạm tội và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Thị Th về tội “ Cố ý gây thương tích” theo Khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương đã tống đạt cho bị cáo. Đồng thời đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương cũng đã đánh giá tính chất vụ án, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ hình phạt và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 2 Điều 104; Điểm b,p,đ Khoản 1,2 Điều 46; Điều 47; Điều 69, Điều 74; Điều 60 Bộ luật hình sự. Nghị quyết 144/QH13; Khoản 3 Điều 7; Khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Th mức án từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Ngoài ra còn đề nghị buộc đại diện hợp pháp cho bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho người bị hại số tiền 4.183.000 đồng. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo Th phạm tội khi đang ở lứa tuổi vị thành nên, ở lứa tuổi này chưa có sự phát triển đầy đủ về thể lực, tinh thần và nhân cách cho nên khả năng nhận thức về pháp luật còn hạn chế. Bị cáo phạm tội trong trường hợp tinh thần bị kích động do hành vi trái pháp luật của người bị hại; Sau khi phạm tội bị cáo đã cùng mẹ lên cơ quan công an trình báo và giao nộp lại con dao gây thương tích, khai báo thành khẩn, Đã cùng mẹ bồi thường cho người bị hại được phần nào, người bị hại cũng xin giảm nhẹ cho bị cáo, bị cáo có ông bà nội ngoại là người có công với cách mạng được thưởng huân huy chương. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm b,đ,p Khoản 1,2 Điều 46 BLHS cần áp dụng cho bị cáo. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 BLHS nên cần áp dụng Điều 47 xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ nghiêm. Từ những phân tích trên luật sư đề nghị xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị và cho bị cáo được hưởng án treo.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa bị cáo Phạm Thị Th đã khai nhận do mâu thuẫn giữa mẹ bị cáo là bà Nguyệt và anh Định, trong lúc bà Nguyệt và anh Định đang giằng co nhau thì bị cáo dùng dao rọc giấy rạch vào tay trái và lưng anh Định và gây thương tích cho anh Định với tỉ lệ 28% như nội dung vụ án đã nêu trong bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương truy tố đối với bị cáo. Đồng thời bị cáo cũng đã nhìn nhận trách nhiệm của mình và có thái độ ăn năn hối hận xin được giảm nhẹ hình phạt.

Hội đồng xét xử kết luận: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng, phù hợp với kết quả giám định và các tài liệu thu thập được trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở khẳng định bị cáo Phạm Thị Th đã phạm vào tội "cố ý gây thương tích" theo điều 104 Bộ luật hình sự.

Đây là vụ án thuộc loại nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm hại đến sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ. Mặc dù tổn hại sức khỏe của người bị hại là 28% nhưng bị cáo đã sử dao rọc giấy là hung khí nguy hiểm theo quy định tại mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để gây thương tích cho anh Định. Vì vậy Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo Khoản 2 Điều 104 BLHS là hoàn toàn đúng mức.

Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt bị cáo đã hành động một cách táo bạo và liều lĩnh gây thương tích 28% cho bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm hoang mang trong quần chúng. Vì vậy cần xét xử nghiêm và lên cho bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên xét bị cáo là người có nhân thân tốt, sau khi phạm tội đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho người bị hại để khắc phục hậu quả, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo có ông bà nội, ngoại là người có công với cách mạng được thưởng Huân huy chương. Bị cáo phạm tội một phần do kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại. Tại phiên tòa người bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hơn nữa bị cáo khi phạm tội chỉ mới hơn 16 tuổi, ở độ tuổi mà tâm sinh lý phát triển chưa hoàn thiện. Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,p,đ khoản 1,2 điều 46; Điều 69, Điều 74 BLHS để giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo.

Do các bị cáo Th không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 Điều 46 BLHS mặt khác bị cáo khi phạm tội đang ở lứa tuổi vị thành niên khi mà nhận thức pháp luật còn hạn chế nên cần áp dụng điều 47 BLHS xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ nghiêm.

Theo quy định tại khoản 2 điều 134 BLHS năm 2015 quy định về tội " Cố ý gây thương tích" có mức hình phạt từ 02 đến 05 năm tù, nhẹ hơn so với mức hình phạt quy định tại khoản 2 điều 104 BLHS năm 1999 có mức hình phạt từ 2 năm đến 7 năm tù, căn cứ khoản 3 điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị quyết 144/QH13 thì điều luật nhẹ hơn được áp dụng có lợi cho bị cáo đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật có hiệu lực thi hành, nên cần áp dụng Th Khoản 2 điều 134 BLHS năm 2015 để xác định về tội danh và khung hình phạt đối với bị cáo Th.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay người bị hại anh Lê Xuân Định yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổng số tiền 7.183.000 đồng. Đại diện hợp pháp cho bị cáo đã bồi thường được 3.000.000 đồng. Nay anh Định yêu cầu bà Nguyệt phải bồi thường tiếp 4.183.000 đồng xét đây là yêu cầu hợp lý và bà Nguyệt cùng bị cáo cũng nhất trí bồi thường. Nên cần ghi nhận sự thỏa thuận bà Nguyệt và bị cáo phải liên đới bồi thường tiếp cho anh Định số tiền 4.183.000 đồng.

Về vật chứng của vụ án: Một con dao rọc giấy là công cụ phạm tội và

không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Một chiếc áo phông màu đỏ và 01 đôi dép màu đen có quai hậu là tài sản

của người bị hại nhưng không còn giá trị sử dụng và người bị hại không yêu cầu trả lại nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Phạm Thị Th phải chịu án phí HSST; bà Nguyễn Thị Nguyệt và bị cáo Th phải liên đới chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Th. phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.

2. Áp dụng Khoản 2, Điều 104; Điểm b,p,đ Khoản 1,2; Điều 46; Điều 47, Điều 69, Điều 74, Điều 60 Bộ luật hình sự;

Nghị quyết 144/QH13; Khoản 3 Điều 7; Khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Phạm Thị Th. 08 ( Tám ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 16 tháng, Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Thị Th cho UBND xã Hiến Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp Phạm Thị Th thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Khoản 2 Điều 357, 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa anh Định và bà Nguyệt: bà Nguyễn Thị Nguyệt, sinh năm 1970, trú tại: Xóm Gia Khách, xã Hiến Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An và bị cáo Th phải liên đới bồi thường số tiền thuốc điều trị cho anh Lê Xuân Định với số tiền 4.183.000 đồng ( Bốn triệu một trăm tám mươi ba ngàn đồng ).

KÓ tõ ngµy b¶n ¸n cã hiÖu lùc ph¸p luËt vµ cã ®¬n xin thi hµnh ¸n, hµng th¸ng bªn ph¶i thi hµnh ¸n cßn ph¶i chÞu kho¶n tiÒn l·i suÊt theo møc l·i suÊt 10%/năm t ¬ng øng víi thêi gian vµ sè tiÒn ch a thi hµnh ¸n.

Tr êng hîp b¶n ¸n ® îc thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 2 LuËt Thi hµnh ¸n D©n sù th× ng êi ® îc thi hµnh ¸n d©n sù, ng êi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tho¶ thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc bÞ c ìng chÕ thi hµnh ¸n theo quy ®Þnh t¹i c¸c §iÒu 6,7 vµ 9 LuËt Thi hµnh ¸n D©n sù; Thêi hiÖu thi hµnh ¸n ® îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 30 LuËt Thi hµnh ¸n D©n sù.

4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao cán bằng nhựa màu hồng, cán dao có lẫy đẩy

lưỡi dao ra khỏi cán khi cần sử dụng và kéo vào khi không sử dụng.

01 đôi dép đen có quai hậu nhãn mác Huazamei.

01 chiếc áo phông màu đỏ, ống ngắn tay, phía trước bên phải có chữ FC

PINOCHO.

( Số vật chứng trên có tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/02/2017 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương).

5. Bị cáo Phạm Thị Th phải chịu 200.000 đồng ( Hai trăm ngàn đồng ) tiền án phí hình sự sơ thẩm và bà Nguyễn Thị Nguyệt và Phạm Thị Th phải liên đới chịu 300.000 đồng ( Ba trăm ngàn đồng ) án phí dân sự

Án xử công khai có mặt bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị cáo, Luật sư bào chữa cho bị cáo, người bị hại. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị cáo, Luật sư bào chữa cho bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo lên Toà án nhân tỉnh Nghệ An./.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ