- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng"
- Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”. Buộc ông Lý Văn A và bà Lương Thị C liên đới bồi thường cho nguyên đơn chị Hoàng Thị Đ số tiền là 15.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ___________________ Bản án số: 24/2017/DSST Ngày: 17/10/2017 V/v: “ Yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Lưu Thùy Linh
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Châu Anh Kiệt
2. Ông Nguyễn Mạnh Dũng
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thế Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông: Trương Thanh Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 10 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự “ Yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” thụ lý số: 110/2017/ DSST ngày 03 tháng 7 năm 2017, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2017/QĐST - DS ngày 02 tháng 10 năm 2017 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Đ, sinh năm 1979 ( có mặt)
Địa chỉ: Thôn 1, xã H, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
- Bị đơn: Bà Lương Thị C; sinh năm: 1961 (có mặt) Địa chỉ: Thôn 1, xã H, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Lý Văn A; sinh năm1959. ( Vắng mặt )
Địa chỉ: Thôn 1, xã H, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
Ông A ủy quyền cho bà Lương Thị C, theo văn bản ủy quyền ngày 02/10/2017.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 21/6/2017 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Hoàng Thị Đ trình bày: Năm 2011 chị Đ có cho gia đình bà C ông A mắc đường dây điện sinh hoạt qua vườn nhà chị Đ, đường dây điện tính từ vị trí lắp đặt công tơ tại trụ điện lực số 50, đi qua vườn nhà chị Đ đến nhà bà C để sử dụng có A dài khoảng 600m; trong vườn nhà chị Đ có trồng cây điều, có nhà ở, công trình phụ, Cồng bò... . Ngày 04/11/2016 chị ra Cồng bò thì phát hiện hai con bò nhà chị bị chết, nguyên nhân chết là do bị đường dây điện nhà bà C mắc ngang qua, lâu ngày nên dây bị trùng xuống cạ sát vào chuồng bò, hở dây điện chuyền xuống Cồng bò, giật chết hai con bò cái; có đặc điểm 01 con màu đen, 06 năm tuổi; 01 con màu vàng có bầu sắp đẻ, khoảng 06 năm tuổi; hai con bò có giá trị là 45.000.000đ, bà C đã trả 30.000.000đ, nay chị yêu cầu bà C trả số tiền còn lại là 15.000.000đ. Ngoài ra, không yêu cầu gì thêm.
Phía nguyên đơn cung cấp các tài liệu chứng cứ gồm: Biên bản vụ việc, biên bản ghi nhận hiện trường, giấy thỏa thuận ( là bản photo đều lập ngày 04/11/2016 ), biên bản hòa giải tại xã H ngày 03/5/2017. Ngoài ra, không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì thêm.
* Trong quá trình thụ lý vụ án và tại phiên tòa bị đơn bà Lương Thị C trình bày: Bà C thừa nhận về sự việc và nguyên nhân dẫn đến việc hai con bò của nhà chị Đ bị chết; là do đường dây điện nhà bà C được mắc qua vườn nhà chị Đ từ năm 2011, sử dụng lâu ngày nên dây điện trùng xuống cạ sát với chuồng bò, hở điện giật chết hai con bò. Bà C thừa nhận các biên bản làm việc, hòa giải tại xã H là đúng; giá trị hai con bò 45.000.000đ là đúng với gía thị trường nhưng bà C không đồng ý bồi thường số tiền còn lại là 15.000.000đ theo yêu cầu của chị Đ vì chị Đ làm Cồng bò sau khi bà mắc đường điện; trong thời gian qua gia đình bà có xem xét bảo quản đường dây điện hai lần, có thấy Cồng bò tuy nhiên cành điều nhiều nên không tỉa được hết. Bà C không cung cấp tài liệu chứng cứ gì.
* Trong quá trình thụ lý vụ án người có nghĩa vụ liên quan ông Lý Văn A trình bày: Mối quan hệ giữa ông với bà Lương Thị C là vợ chồng; về sự việc, nguyên nhân làm chết hai con bò nhà chị Đ ông thừa nhận nguyên đơn chị Đ và bà C trình bày là đúng. Hiện nay, ông không đồng ý bồi thường số tiền còn lại 15.000.000đ, vì chuồng bò làm sau khi mắc đường dây điện. Ông A không cung cấp tài liệu chứng cứ gì.
* Đại diện Viện kiểm sát huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước phát biểu ý kiến tại phiên tòa:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, HĐXX thực hiện đúng các quy định về tố tụng.
Về nội dung: Đ với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, căn cứ vào Điều 623 của Bộ luật dân sự năm 2005 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông A và bà C liên đới trả cho chị Đ số tiền là 15.000.000đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Xét nội dung khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị Đ yêu cầu bà C bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Đ với hai con bò bị điện giật chết với tổng số tiền là 45.000.000đ, bà C đã trả 30.000.000đ, hiện nay chị Đ khởi kiện yêu cầu bà C trả số tiền còn lại là 15.000.000đ, ngoài ra không yêu cầu gì thêm. Phía bị đơn bà C và người có nghĩa vụ liên quan ông A đều đã thừa nhận về nội dung sự việc, nguyên nhân hai con bò nhà chị Đ bị chết, là do đường dây điện mắc để sử dụng chung cho gia đình bà C ông A gây ra. Tuy nhiên, ông A và bà C không đồng ý bồi thường số tiền còn lại là 15.000.000đ vì hoàn cảnh hiện nay khó khăn về kinh tế, chuồng bò chị Đ làm sau đường dây điện nên không đồng ý bồi thường.
Xét về chủ sở hữu của hệ thống tải điện gây ra thiệt hại; trong quá trình thụ lý vụ án Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng có xác minh tại Điện Lực Bù Đăng, có nội dung: “ Sau khi ký kết hợp đồng mua điện sinh hoạt của hộ ông Lý Văn A, ngày 17/4/2011 tiến hành cấp điện, thỏa thuận vị trí lắp đặt công tơ tại trụ điện lực số 50; về vật tư, thiệt bị và vấn đề an toàn điện, bảo đảm mỹ thuật, kỹ thuật chất lượng điện năng sau công tơ bên mua điện hoàn toàn chịu trách nhiệm ( nếu kéo quá dài 40m), khi xảy ra mất mát hoặc sự cố gây thiệt hại cho người và thiết bị tự giải quyết”. Độ dài từ sau công tơ đến nhà bà C được hai bên thừa nhận có độ dài là 600m; như vậy, có căn cứ để xác định chủ sở hữu đường dây điện gây thiệt hại là của ông A và bà C. Sự việc xảy ra vào ngày 04/11/2016 do đó cần áp dụng Bộ luật dân sự năm 2005 để xem xét giải quyết; Đ chiếu với quy định tại Điều 623 Bộ luật dân sự quy định: “ Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ ( hệ thống tải điện ) phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra”. Như vậy, có đủ căn cứ để buộc ông A và bà C phải có trách nhiệm bồi thường về hai con bò của chị Đ bị điện giật chết.
Về giá trị của hai con bò hai bên đã thống nhất có giá 45.000.000đ, bà C đã trả cho chị Đ là 30.000.000đ, hiện còn 15.000.000đ; cần buộc ông A và bà C liên đới bồi thường cho chị Đ là 15.000.000đ.
Về án phí: Yêu cầu của Nguyên đơn được chấp nhận, bị đơn và người có nghĩa vụ liên quan phải nộp tiền án phí theo luật định.
Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 608, 623 của Bộ luật dân sự năm 2005;
- Căn cứ vào khoản 6 Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH16 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016.
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”. Buộc ông Lý Văn A và bà Lương Thị C liên đới bồi thường cho nguyên đơn chị Hoàng Thị Đ số tiền là 15.000.000đ ( Mười lăm triệu đồng ).
[2] Về án phí: Buộc ông Lý Văn A và bà Lương Thị C phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là 750.000đ. Chi cục thi hành án huyện Bù Đăng hoàn trả lại cho chị Đ số tiền tạm ứng án phí mà chị Đ đã nộp là 437.500đ; theo biên lai thu tiền số 000428 ngày 03/7/2017.
[3] Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, người phải thi hành án không tự giác thi hành, thì phải chịu lãi suất theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả tại thời điểm trả nợ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[4] Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17/10/2017).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - VKSND H.Bù Đăng; - Chi cục THADS H. Bù Đăng; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thùy Linh |