vanban.org

Bản án 239/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 239/2025/HNGĐ-ST
Ngày 24-11-2025
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩmphán-Chủtọaphiêntòa:Ông Lâm Thành Quang CácHộithẩmnhândân: Bà Đỗ Mỹ Lil Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng -Thư ký phiên tòa:Bà Nguyễn Cẩm Hường – Thư ký viên, Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Ngày 24 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 402/2025/TLST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 455/2025/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự: -Nguyênđơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh ngày 19/02/1973, có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Số CCCD xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 23/3/2022. -Bịđơn: Chị Huỳnh Thanh H, sinh ngày 19/4/1975, có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Số CCCD xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 16/9/2021. Cùng địa chỉ cư trú ấp K, xã Đ, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày: Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T và chị H xác lập quan hệ hôn nhân từ năm 1995, nhưng đến nay không có đăng ký kết hôn theo quy định. Quá trình sống chung, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, không còn hạnh phúc. Nay, nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, anh T yêu cầu được ly hôn với chị H. Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung, gồm: Cháu Nguyễn Huỳnh T1, sinh ngày 09/8/1995, giới tính: Nam. Cháu Nguyễn Sỉ N, sinh ngày 10/8/2003, giới tính: Nam. Hiện các con đã trưởng thành, nên không có yêu cầu Toà án giải quyết về trách nhiệm nuôi dưỡng. Về tài sản, nợ: Không có yêu cầu Toà án giải quyết. Nay, anh Nguyễn Văn T đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.

- Bị đơn chị Huỳnh Thanh H trình bày: Về hôn nhân: Việc anh T trình bày là đúng. Tuy nhiên, việc anh T ly hôn với chị xuất phát anh T có quen người phụ nữ khác, nên anh T ly hôn với chị. Xét thấy giữa chị và anh T không thể tiếp tục chung sống, chị đồng ý ly hôn với anh T. Về con chung: Anh T trình bày là đúng. Về tài sản, nợ: Không có yêu cầu Toà án giải quyết. Nay, chị Huỳnh Thanh H đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Tại phiên toà, anh Nguyễn Văn T và chị Huỳnh Thanh H vắng mặt, nhưng đã có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Saukhinghiêncứucáctàiliệucótronghồsơvụánđượcthẩmtratạiphiên tòavàcăncứvàokếtquảtranhluậntạiphiêntòa,Hộiđồngxétxửnhậnđịnh: [1] Về tố tụng:

- Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Tại phiên toà, anh Nguyễn Văn T và chị Huỳnh Thanh H vắng mặt, nhưng đã có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Căn cứ các điều 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cần xét xử các đương sự nêu trên, là phù hợp.

- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Được xác định là tranh chấp về ly hôn, bị đơn là chị Huỳnh Thanh H có nơi cư trú tại ấp K, xã Đ, tỉnh Cà Mau. Từ đó, Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [2] Về nội dung: [2.1] Về hôn nhân: Anh T và chị H cùng xác định, anh/chị sống chung như vợ chồng từ năm 1995, đến nay không có đăng ký kết hôn. Nay, nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên anh T và chị H thống nhất ly hôn. Tuy nhiên, anh T và chị H chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên đã vi phạm về hình thức. Căn cứ các điều 9, 14, 53 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 3 của Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Tươi, không công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị H là vợ chồng. [2.2] Về con chung: Anh T và chị H cùng xác định, anh/chị có 02 người con chung, là cháu Nguyễn Huỳnh T1, sinh ngày 09/8/1995, giới tính: Nam và cháu Nguyễn Sỉ N, sinh ngày 10/8/2003, giới tính: Nam. Hiện các con đã trưởng thành, nên anh/chị không có yêu cầu Toà án giải quyết về trách nhiệm nuôi dưỡng, là có cơ sở. [2.3] Về tài sản, nợ: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, trường hợp có tranh chấp sẽ được giải quyết ở vụ án khác. [3] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T, nên anh T phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng. Vì các lẽ trên;

QUYÊT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 9, 14, 15, 53, 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Tuyênxử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T. 1. Về hôn nhân: Không công nhận giữa anh Nguyễn Văn T và chị Huỳnh Thanh H là vợ chồng. 2. Về con chung: Đã trưởng thành, không đặt ra giải quyết. 3. Về tài sản, nợ: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, trường hợp có tranh chấp sẽ được xem xét giải quyết ở vụ án khác. 4. Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng, đối trừ số tiền 300.000 đồng anh T dự nộp tại Biên lai thu số 0004016 ngày 06/11/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, nay được chuyển thu đối trừ. TrườnghợpquyếtđịnhđượcthihànhtheoquiđịnhtạiĐiều2Luậtthihành ándânsựthìngườiđượcthihànhándânsự,ngườiphảithihànhándânsựcó quyềnthoảthuậnthihànhán,quyềnyêucầuthihànhán,tựnguyệnthihànhán hoặcbịcưỡngchếthihànhántheoquiđịnhtạicácĐiều6,7,7a,7bvà9Luậtthi hànhándânsự;thờihiệuthihànhánđượcthựchiệntheoquiđịnhtạiĐiều30Luật thihànhándânsự. 5. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn T và chị Huỳnh Thanh H được quyền kháng cáo Bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ