vanban.org

Bản án 239/2022/HSST — Hình sự

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 14/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn N 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/9/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN G
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 239/2022/HSST
Ngày: 14-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN G, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn.

2. Bà Lê Thị Chí.

Thư ký phiên toà: Bà Võ Thu Hoài – Thư ký Toà án nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trường Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 12 năm 2022, tại Phòng xử án Toà án nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh – Số 416/2 đường Dương Quảng Hàm, Phường 5, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 231/2022/HSST ngày 10/11/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 283/2022/QĐXXST-HS ngày 16/11/2022, đối với bị cáo:

Nguyễn N; sinh ngày 06/4/2005, tại Tp. Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 1D tổ A, khu phố 3, phường T, Quận P, Tp. Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn H (chết) và bà Phạm L; Vợ, con: Không có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giam ngày 16/9/2022 (có mặt tại phiên tòa).

-Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo:

Bà Phạm L, sinh năm 1982 (Mẹ ruột của bị cáo Nam).

Nơi cư trú: 1D tổ A, khu phố 3, phường T, Quận P, Tp. Hồ Chí Minh (Có mặt).

-Người bào chữa của bị cáo:

Ông Nguyễn M-Luật sư thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước Tp. Hồ Chí Minh.

Địa chỉ: Số A đường Nguyễn P, Phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).

-Bị hại: Bà Phan N, sinh năm 1973 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số 1 đường Nguyễn C, Phường D, quận G, Tp. Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 00 ngày 14/5/2022, sau khi chơi game tại tiệm internet địa chỉ số: 2 đường Phan I, Phường D, quận G xong Nguyễn N rủ Lê V H đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền chia nhau tiêu xài thì H đồng ý, cả hai cùng nhau đi bộ từ đường Phan H vào khu dân cư đường Nguyễn D, Phường D, quận G. N nhìn thấy chiếc xe mô tô hiệu Elegant màu đen, bạc, biển số: 70L8-8749 của chị Phan N dựng trước địa chỉ: A đường Nguyễn D, Phường D, quận G, không có người trông coi. Nam kêu H đứng đợi cảnh giới bên ngoài cho N vào lấy trộm chiếc xe mô tô trên rồi cùng nhau tẩu thoát ra đường Phan H - QT làm chìa khóa sử dụng. Đến ngày 17/5/2022, N và H đi đến địa bàn phường SK, quận T, thành phố Hồ Chí Minh, thì bị Công an phường SK kiểm tra phát hiện và thu hồi xe mô tô biển số: 70L8 - 8749 giao cho Công an quận G xử lý.

Ngày 06/6/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Lê V H và Nguyễn N.

Nguyễn N khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi. Qua xác minh tại địa chỉ 2/31B tổ 15, khu phố 5, đường Đ 2, phường T, Quận M thành phố Hồ Chí Minh không có đăng ký lưu trú, tạm trú tại địa chỉ này và không có mặt tại địa phương. Cơ quan điều tra Công an quận G đã ra lệnh bắt bị can Nguyễn N để tạm giam. Ngày 23/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G ra Quyết định truy nã đối với Nguyễn N. Ngày 16/9/2022, N bị Đồn biên phòng cửa khẩu Quốc tế Mộc Bài bắt theo lệnh truy nã số 15 ngày 17 tháng 8 năm 2022.

Tại Cơ quan điều tra, Lê V H và Nguyễn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra cả hai khai nhận khoảng 14 giờ 30 phút ngày 14/5/2022, N và H thực hiện trộm cắp xe mô tô biển số: 81K2 - 3449 trước địa chỉ số A đường Nguyễn Q, phường T, Quận M, thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã chuyển hồ sơ cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận M xử lý theo thẩm quyền. Ngày 22/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận M đã khởi tố vụ án nêu trên. Hiện cơ quan điều tra Công an Quận M đang tiếp tục điều tra theo thẩm quyền.

Vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A10; 01 xe mô tô biển số: 70L8 – 8749.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an quận G, Tp. Hồ Chí Minh, Nguyễn N đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp của bản thân như đã nêu trên.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 102/KL-HĐĐGTS ngày 25/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận G kết luận: 01 xe mô tô hiệu Elengant, biển số 70L8-8749, đã qua sử dụng ngày 14/5/2022 có giá trị 2.766.667 đồng.

Tại bản cáo trạng số 218/CT–VKS-QGV ngày 04/11/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân quận G, Tp. Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn N về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội để áp dụng hình phạt đối với bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn N từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Người bào chữa cho bị cáo Nam trình bày: Thống nhất với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đề nghị, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội, trình độ học vấn thấp, nhận thức hạn chế nên áp dụng quy định tại Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo, đề nghị mức hình phạt thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị là 09 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Luật sư, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Tp. Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận G, Tp. Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

. Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn N tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội cùng các tài liệu chứng cứ k 14/5/2022, trước địa chỉ số A đường Nguyễn D, Phường D, quận G, Tp. Hồ Chí Minh, Lê V H và Nguyễn N đã lén lút chiếm đoạt một xe mô tô hiệu Elengant, biển số 70L8-8749 của chị Phan N trị giá 2.766.667 đồng. Hành vi của bị cáo Nguyễn N phạm tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Việc truy tố, luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận G, Tp. Hồ Chí Minh đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi muốn chiếm đoạt tài sản để tiêu xài cá nhân nên vẫn cố tình phạm tội. Quá trình điều tra bị cáo bỏ trốn và bị truy nã đã gây khó khăn cho công tác điều tra. Do đó, cần phải có mức án thoả đáng, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để có tác dụng giáo dục và phòng chống tội phạm nói chung.

. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên áp dụng điểm i, s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội nên áp dụng Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để áp dụng đối với bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Lời bào chữa của Luật sư cho bị cáo là có cơ sở chấp nhận.

. Đối với Lê V H đã bị xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 196/2022/HSST ngày 30/9/2022 của Toà án nhân dân quận G. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết trong vụ án này.

. Đối với hành vi Nguyễn N và Lê V H thực hiện trộm cắp xe mô tô biển số: 81K2 - 3449 trước địa chỉ số A đường Nguyễn Q, phường T, Quận M, thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã chuyển hồ sơ cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận M xử lý theo thẩm quyền. Ngày 22/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận M đã khởi tố vụ án nêu trên. Hiện cơ quan điều tra Công an Quận M đang tiếp tục điều tra theo thẩm quyền. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết trong vụ án này.

. Về trách nhiệm dân sự: Đối với Bà Phan N vắng mặt, nhưng qua hồ sơ thể hiện bà N đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường và cũng không có ý kiến gì khác nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

. Về xử lý vật chứng:

. Đối với 01 xe mô tô biển số: 70L8 – 8749. Xét thấy, là tài sản của bị hại là Bà Phan N, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà Ngân là đúng theo quy định của pháp luật.

. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung A10. Xét thấy, là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị cáo là đúng theo quy định của pháp luật.

. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

. Bị cáo, người bào chữa, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ khoản 1, Điều 173; điểm i, điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn N 09 (chín) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 16/9/2022.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bào chữa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Anh Đức

Cỡ chữ