vanban.org

Bản án 239/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 22/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Hoàng Thị Thanh Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Hoàng Thị Thanh Th 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Đỗ Hoàng Thị Thanh Th cho UBND phường Khánh Xuân, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Hoàng Thị Thanh Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 239/2022/HS-ST
Ngày 22 - 8 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Kiên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Công Chính

2. Bà Nguyễn Thị Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Sim là Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 222/2022/TLST-HS, ngày 28 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 243/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Hoàng Thị Thanh Th; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 04/4/1982; Tại: Tỉnh Đắk Lắk. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Số 264/72/2 V V Kiệt, phường Kh X, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông: Đỗ Văn M, sinh năm 1955; Con bà: Hoàng Thị B, sinh năm 1957. Hiện trú tại: Khối 1, phường KX, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; Bị cáo có chồng là Trần Quang Tr, sinh năm 1983 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2004; con nhỏ nhất sinh năm 2016.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).

- Bị hại:

1. Ông Nguyễn Huy T (vắng mặt)

Địa chỉ: 14 NĐC, TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Mỹ H (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: 274 VVK, TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

2/ Bà Nguyễn Thị Ngọc A (vắng mặt)

Địa chỉ: 14 NĐC, TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Người làm chứng: Ông Phạm Công M (vắng mặt)

Địa chỉ: 20/8/13 NĐK, TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 04/01/2022, Đỗ Hoàng Thị Thanh Th điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nozza, màu vàng, biển số 47B1-392.45, chở chị Nguyễn Thị Mỹ H (sinh năm: 1977, trú tại: 274 Võ Văn Kiệt, phường Khánh Xuân, thành phố Buôn Ma Thuột) đi đến tiệm vải Anh Phát (do chị Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1984, làm chủ) ở địa chỉ: 14 Nguyễn Đức Cảnh, phường Thắng Lợi, thành phố Buôn Ma Thuột, để chị H mua vải. Khi đến nơi, chị H đi vào phía trong chọn vải, còn Th đứng bên ngoài cửa thì Th thấy ở khu vực gần tường, phía trong, bên phải của tiệm vải (theo hướng nhìn từ bên ngoài vào) có 01 ví da nam màu nâu đen, của anh Nguyễn Huy Tú, sinh năm 1990 (là em trai của chị Ngọc Anh) để trên 01 chồng vải dựng ở khu vực cửa ra vào, đặt trong khuôn viên của tiệm, không có ai trông coi quản lý. Th liền tiến lại gần rồi cầm chiếc ví lên xem thì thấy bên trong ví có một số giấy tờ tùy thân cùng một xấp tiền, nên Th nảy sinh ý định trộm cắp chiếc ví. Lúc này, Th lén lút cầm chiếc ví đi đến để trên 01 chồng vải gần lối ra vào, phía trong, bên trái của tiệm vải (theo hướng nhìn từ bên ngoài vào), rồi lấy 02 chiếc bao tay nữ bằng vải, màu xám của Th để lên trên che chiếc ví. Sau đó, Th vẫy tay, gọi chị H lại chỉ vào chiếc ví và nói: “Chị ơi, em lượm được cái bóp”, thì chị H nói: “Chắc khách hàng làm rơi”, rồi chị H quay vào trong tiệm, tiếp tục chọn vải còn Th liền dùng tay lấy cả 02 chiếc bao tay và ví bỏ vào trong bịch nilon màu đen mà Th mang theo trước đó, mang ra ngoài để bên cạnh xe mô tô của Th và ngồi đợi chị H ra về. Một lúc sau, chị H đi ra thì Th chở chị H đến một tiệm sửa xe máy trên đường Quang Trung, thành phố Buôn Ma Thuột để chị H lấy xe mô tô của chị H. Sau đó, Th và chị H mỗi người một xe cùng đi về nơi bán hàng đồ chơi của Th tại vỉa hè trước địa chỉ 274 Võ Văn Kiệt, phường Khánh Xuân, thành phố Buôn Ma Thuột. Tại đây, Th lấy chiếc ví trong bịch nilon ra, một mình mở ví đếm số tiền bên trong chiếc ví thấy có số tiền là 7.338.000 đồng cùng một số giấy tờ tùy thân của anh Tú rồi Th nói cho chị H biết thì chị H nói Th trả lại chiếc ví cho chị Anh, anh Tú. Cùng lúc này, chị Anh gọi cho chị H và yêu cầu Th trả lại chiếc ví thì Th biết hành vi của mình đã bị phát hiện, nên Th bỏ chiếc ví vào trong hộp giấy carton nhỏ, dùng băng keo quấn lại, bỏ vào bịch nylon cột lại và nhờ chị H gọi người chạy xe ôm là ông Phạm Công Minh, sinh năm 1969, trú tại: 20/8/13 Nguyễn Khoa Đăng, phường Khánh Xuân, thành phố Buôn Ma Thuột, mang đến tiệm vải Anh Phát trả cho chị Anh, anh Tú. Sau đó, anh Tú trình báo sự việc đến Cơ quan Công an xử lý.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột còn tạm giữ các đồ vật, tài sản gồm: 01 đĩa DVD, bên trong chứa 02 file hình ảnh cùng 06 file video; 01 ví nam, bằng da, màu nâu đen, bên trong có số tiền 7.338.000 đồng và 01 Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Huy Tú (đã bị cắt góc), do anh Nguyễn Huy Tú giao nộp; tạm giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A70, số kiểu máy SM-A705F/DS, màu đen, số Imei: 3559151024472224, bên trong có gắn Sim số 0911.564.898, có ốp bằng nhựa bên ngoài, do bị cáo Đỗ Hoàng Thị Thanh Th giao nộp, để phục vụ công tác điều tra.

Riêng đối với 02 chiếc bao tay nữ bằng vải, màu xám của bị cáo Đỗ Hoàng Thị Thanh Th mang theo và sử dụng để che chiếc ví, cùng 01 túi nilon màu đen Th, quá trình sử dụng Th đã vứt bỏ, không rõ địa điểm vứt, do vậy Cơ quan điều tra không tạm giữ được.

Tại bản Kết luận định giá số 12/KL-HĐĐGTS ngày 14/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Buôn Ma Thuột, kết luận: 01 ví nam, bằng da, màu nâu đen (đã qua sử dụng), trị giá 200.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 235/CT-VKS BMT ngày 26/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, đã truy tố bị cáo Đỗ Hoàng Thị Thanh Th về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà không phát sinh tình tiết mới làm thay đổi bản chất của vụ án nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp Buôn Ma Thuột vẫn giữ nguyên bản cáo trạng số: 235/CT-VKS BMT ngày 26/7/2022 và đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo Đỗ Hoàng Thị Thanh Th phạm tội: “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Hoàng Thị Thanh Th mức án từ 09 tháng đến 01năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận cơ quan điều tra giao trả 01 ví nam, bằng da, màu nâu đen (đã qua sử dụng); số tiền 7.338.000 đồng và 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Huy Tú (đã bị cắt góc) là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Huy Tú nhận sử dụng.

Chấp nhận cơ quan điều tra giao trả 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A70, số kiểu máy SM-A705F/DS, màu đen, số Imei: 3559151024472224, bên trong có gắn Sim số 0911.564.898, có ốp bằng nhựa bên ngoài là tài sản của bị cáo Đỗ Hoàng Thị Thanh Th nhận quản lý, sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Đỗ Hoàng Thị Thanh Th thừa nhận hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng. Do ý thức coi thường pháp luật, coi thường quyền sở hữu tài sản của người khác nên khoảng 13 giờ ngày 04/01/2022, tại tiệm vải Anh Phát, do chị Nguyễn Thị Ngọc Anh làm chủ, ở địa chỉ: 14 Nguyễn Đức Cảnh, phường Thắng Lợi, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo Đỗ Hoàng Thị Thanh Th đã trộm cắp tài sản của anh Nguyễn Huy T 01 chiếc ví da, trị giá 200.000 đồng và số tiền 7.338.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị cáo trộm cắp là 7.538.000 đồng.

Do đó, có đủ cơ sở pháp lý kết luận hành vi của bị cáo Đỗ Hoàng Thị Thanh Th đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

Xét tính chất hành vi của bị cáo là nguy hiểm. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác, đồng thời hành vi phạm tội của bị cáo còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Mặc dù bị cáo nhận thức được rằng tài sản của công dân là bất khả xâm phạm, mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật đều bị pháp luật trừng trị, xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật với bản chất lười biếng lao động nhưng muốn có tiền tiêu xài, vào khoảng 13 giờ ngày 04/01/2022, tại tiệm vải Anh Phát, do chị Nguyễn Thị Ngọc A làm chủ, ở địa chỉ: 14 Nguyễn Đức Cảnh, phường Thắng Lợi, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo Đỗ Hoàng Thị Thanh Th đã trộm cắp tài sản của anh Nguyễn Huy Tú 01 chiếc ví da, trị giá 200.000 đồng và số tiền 7.338.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị cáo trộm cắp là 7.538.000 đồng, do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do lỗi cố ý gây ra.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo không vi phạm tình tiết định khung tăng nặng được quy định nên xét xử tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Về tình tiết tăng nặng: Không có

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân tốt chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản trộm cắp có giá trị không lớn đã tịch thu trả cho người bị hại, người bị hại làm đơn xin bãi nại cho bị cáo, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo.Vì vậy, HĐXX xét thấy cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt, về xử lý vật chứng là phù hợp do đó cần chấp nhận.

Với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, quá trình điều tra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng, do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình bị cáo, giáo dục cho bị cáo sửa chữa sai lầm để trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận cơ quan điều tra giao trả 01 ví nam, bằng da, màu nâu đen (đã qua sử dụng); số tiền 7.338.000 đồng và 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Huy Tú (đã bị cắt góc) là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Huy Tú nhận sử dụng.

Chấp nhận cơ quan điều tra giao trả 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A70, số kiểu máy SM-A705F/DS, màu đen, số Imei: 3559151024472224, bên trong có gắn Sim số 0911.564.898, có ốp bằng nhựa bên ngoài là tài sản của bị cáo Đỗ Hoàng Thị Thanh Th nhận quản lý, sử dụng.

Trong vụ án này, đối với chị Nguyễn Thị Mỹ H là người đi cùng bị cáo Đỗ Hoàng Thị Thanh Th đến tiệm vải Anh Phát, ở địa chỉ: 14 Nguyễn Đức Cảnh, phường Thắng Lợi, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình điều tra xác định, chị H không tham gia cùng bị cáo Th trộm cắp tài sản của anh Nguyễn Huy Tú. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột không đề cập xử lý đối với chị H, là phù hợp.

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nozza, màu vàng, biển số 47B1-392.45, quá trình điều tra xác định đây là tài sản của bị cáo Đỗ Hoàng Thị Thanh Th không sử dụng vào việc phạm tội. Do vậy, Cơ quan điều tra không tạm giữ và không đề cập xử lý, là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm h,i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Hoàng Thị Thanh Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Hoàng Thị Thanh Th 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đỗ Hoàng Thị Thanh Th cho UBND phường Khánh Xuân, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận cơ quan điều tra giao trả 01 ví nam, bằng da, màu nâu đen (đã qua sử dụng); số tiền 7.338.000 đồng và 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Huy Tú (đã bị cắt góc) là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Huy Tú nhận sử dụng.

Chấp nhận cơ quan điều tra giao trả 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A70, số kiểu máy SM-A705F/DS, màu đen, số Imei: 3559151024472224, bên trong có gắn Sim số 0911.564.898, có ốp bằng nhựa bên ngoài là tài sản của bị cáo Đỗ Hoàng Thị Thanh Th nhận quản lý, sử dụng.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đỗ Hoàng Thị Thanh Th phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật THADS thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7 và điều 9 Luật THADS; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THADS./.

Cỡ chữ