vanban.org

Bản án 239/2020/HSPT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 16/09/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/09/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của các ị cáo Trư ng Văn L, Đỗ R, Nguyễn C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đỗ Văn N, Đỗ Văn G, Đinh Văn M và Nguyễn Thị N, giữ nguyên Bản án hình sự s thẩm số 55/2019/HS-ST ngày 30/9/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh B Định. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Văn S, s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Thị H và đồng phạm - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 239/2020/HSPT
Ngày: 18 - 9 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Tuấn

Các thẩm phán:

Ông Nguyễn Tấn Long

Ông Mai Xuân Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Thị Mỹ Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân cấp

cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên

tòa: Ông Quách Đức Dũng, Kiểm sát viên.

Vào ngày 18 tháng 9 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh B Định

xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 376/2019/TLPT-HS ngày 14 tháng 12

năm 2019 đối với ị cáo Ngô Thị H và đồng phạm về tội “Lừa đỏa chiếm đoạt

tài sản”. Do có kháng cáo của các ị cáo và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan đối với Bản án hình sự s thẩm số 55/2019/HS-ST ngày 30-9-2019

của Tòa án nhân dân tỉnh B Định. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

1496/2020/QĐXXPT-HS ngày 24 tháng 8 năm 2020.

- Bị cáo:

1. Ngô Thị H - Sinh năm: 1972 tại Nghệ An; n i cư trú: B Định; nghề

nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo:

Không; quốc tịch: Việt N; con ông: Ngô Văn L (chết) và à Lê Thị T (chết);

chồng: Đặng Văn L sinh năm 1974, con: Có 04 người lớn nhất sinh năm 1991,

nhỏ nhất sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Ngày

06.01.2016 ị C quan CSĐT công an huyện H khởi tố ị can về tội “Cố ý gây

thư ng tích” và ngày 20.7.2016 TAND huyện H đình chỉ điều tra vụ án; Ngày

29.11.2016 ị TAND tỉnh B Định xét xử về tội “Mua án trái phép vật liệu nổ”

với mức án 02 năm tù. Bị cáo ị ắt tạm giam ngày 15.5.2018; có mặt.

- Các bị cáo có kháng cáo:

2. Trương Văn L - Sinh năm: 1979 tại B Định; n i cư trú: huyện H, B

Định; nghề nghiệp: Làm iển; trình độ văn hóa: mẫu giáo/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông: Trư ng M (chết) và à Lê Thị M, sinh năm 1944; vợ: Phạm Thị N, sinh năm 1981, con: Có 02 người lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Tốt; ị cáo ị truy nã đến ngày 26.5.2017 ra đầu thú và tạm giam đến 19.01.2018 được thay thế ằng iện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi n i cư trú”; vắng mặt.

3. Đỗ R - Sinh năm: 1953 tại B Định; n i cư trú: huyện H, B Định; nghề

nghiệp: Làm iển; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông: Đỗ G (chết) và à Trịnh Thị K (chết); vợ: Trịnh Thị C, sinh năm 1958, con: Có 02 người lớn nhất sinh năm 1978, nhỏ nhất sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Tốt; ị cáo tại ngoại, ị áp dụng iện pháp “Cấm đi khỏi n i cư trú”; vắng mặt.

4. Võ Hoàng T - Sinh năm: 1968 tại B Định; n i cư trú: huyện H, B Định;

nghề nghiệp: Làm iển; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông: Võ Văn M (chết) và à Nguyễn Thị N, sinh năm 1927; vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1964, con: Có 03 người, lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Tốt; ị cáo tại ngoại, ị áp dụng iện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi n i cư trú”; đã chết ngày 27/3/2020.

5. Nguyễn C - Sinh năm: 1954 tại B Định; n i cư trú: huyện H, B Định;

nghề nghiệp: Làm iển; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông: Nguyễn C (chết) và à Đỗ Thị B (chết); vợ: Huỳnh Thị V, sinh năm 1955, con: Có 02 người, lớn nhất sinh năm 1976; tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Tốt; ị cáo tại ngoại, ị áp dụng iện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi n i cư trú”; vắng mặt.

6. Cao Văn S - Sinh năm: 1980 tại B Định; n i cư trú: Thuyện H, B Định;

nghề nghiệp: Làm iển; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông: Cao Văn S, sinh năm 1954 và à Phạm Thị V sinh năm 1959; vợ: V Thị Mỹ K, sinh năm 1982, con: Có 02 người lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Tốt; ị cáo tại ngoại, ị áp dụng iện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi n i cư trú”; có mặt.

* Người bào chữa:

- Ông Nguyễn Văn T - Luật sư hoạt động tại Văn phòng luật sư T và

Cộng sự – Đoàn luật sư tỉnh B Định ào chữa cho ị cáo Nguyễn C; có mặt.

- Ông Nguyễn T4 V - Luật sư hoạt động tại Văn phòng luật sư N – Đoàn

luật sư tỉnh B Định ào chữa cho ị cáo Đỗ R và Trư ng Văn L; có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Đinh Văn M - sinh năm 1977. Người đại diện theo ủy quyền có à: Võ Thị

L, theo Giấy ủy quyền ngày 15/9/2020 số chúng thực 13226 UBND phường H;

có mặt.

N i cư trú: H, H, B Định.

- Nguyễn Thị N - sinh năm 1954; có mặt.

N i cư trú:, H, H, B Định.

- Đỗ Văn G - sinh năm 1975; có mặt.

N i cư trú: H, H, B Định.

- Đỗ Văn N - sinh năm 1970. Người đại diện theo ủy quyền có à Phan Thị

L, theo Giấy ủy quyền số 13225 ngày 15/9/2020 chứng thực UBND phường H;

có mặt.

N i cư trú:, H, H, B Định.

Người ảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Đinh Văn M, à Nguyễn

Thị N, ông Đỗ Văn G, ông Đỗ Văn N: Luật sư Nguyễn Hữu H - Công ty luật

TNHH MTV Luật Việt N; địa chỉ: thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

- Võ T T - sinh năm 1969.

N i cư trú: H, H, B Định; có đ n xin xét xử vắng mặt.

Ngoài ra trong vụ án còn có một số ị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị Tòa

án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn iến tại phiên toà, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2010, Thủ tướng Chính phủ an hành Quyết định số 48/2010/QĐ-

TTg về chính sách khuyến khích, hỗ trợ ngư dân khai thác hải sản và dịch vụ hải

sản trên các vùng iển xa, theo đó các chủ tàu cá đăng ký hoạt động khai thác

hải sản trên các vùng iển xa mỗi năm được nhà nước hỗ trợ tiền chi phí nhiên

liệu tối đa 04 chuyến iển, mỗi chuyến iển được hỗ trợ từ 18 triệu đồng đến

100 triệu đồng tùy theo công suất tàu cá. Điều kiện để được hỗ trợ là: Tàu cá phải đăng ký khai thác hải sản trên vùng iển xa, mỗi chuyến tàu cá có hoạt động trên vùng iển xa ít nhất là 15 ngày theo vùng iển quy định và xác nhận của Ủy an nhân dân các đảo thuộc quần đảo, Hải quân Hoàng Sa, Trường Sa hoặc nhắn tin máy định vị tầm xa (gọi tắt là máy HF) và phải làm hồ s xin hỗ trợ theo quy định. Kinh phí hỗ trợ được sử dụng từ nguồn ngân sách Nhà nước.

Để được hỗ trợ chi phí nhiên liệu cho tàu cá khai thác hải sản vùng iển

xa, ngư dân phải nộp hồ s xin hỗ trợ cho Chi cục Thủy sản để thẩm định, trình UBND tỉnh phê duyệt và chi tiền hỗ trợ. Hồ s xin hỗ trợ chi phí nhiên liệu gồm: Đ n xin hỗ trợ chi phí nhiên liệu cho tàu cá khai thác hải sản xa ờ; Giấy phép khai thác hải sản; Giấy xác nhận tàu cá có khai thác hải sản trên vùng iển xa của Chỉ huy các đảo xa, hoặc xác nhận vị trí tàu cá hoạt động vùng iển xa (theo mẫu Giấy phụ lục 4a hoặc 4 do Chi Cục Thủy sản cấp;Xác nhận tàu cá xuất, nhập ến của Đồn, Trạm Biên phòng cảng vào Giấy phụ lục 4a hoặc Sổ Danh ạ thuyền viên; Nhật ký khai thác hải sản trong chuyến đi iển; Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật tàu cá.

L dụng chính sách này, từ năm 2012 đến năm 2016, thực tế một số tàu cá

không khai thác hải sản trên vùng iển xa, cũng không vào các đảo Hoàng Sa, Trường Sa…để ký giấy xác nhận khai thác tàu cá hoặc không nhắn tin định vị tầm xa (máy HF) nên không đủ điều kiện để được hỗ trợ chi phí nhiên liệu theo quy định của Nhà nước mà các chủ tàu cá đã thông qua Nguyễn T D, Nguyễn Thị T T, Phạm Văn T1, Đặng Hoàng T2, Lê Văn G , Lê Văn V, Huỳnh Thị Bích H, Phan Thị N làm khống hồ s , ằng hình thức ký khống giấy xác nhận đảo và nhắn tin máy HF để nhận tiền hỗ trợ. Để làm được hồ s , Nguyễn Thị T T, Đặng Hoàng T2 nhận các giấy tờ tàu cá rồi gửi cho Ngô Thị H để ký khống giấy xác nhận đảo rồi đưa lại cho Đặng Hoàng T2 để T2 hướng dẫn chủ tàu cá làm đ n đề nghị hỗ trợ chi phí nhiên liệu, viết sổ nhật ký khai thác. Tư ng tự như trên, Lê Văn G nhận hồ s của các chủ tàu cá rồi gửi cho Võ Thị Kim T4 để ký khống giấy xác nhận đảo khống hồ s cho các tàu cá. Còn Ngô Thị H đã trực tiếp nhận giấy tờ của các chủ tàu như: Sổ danh ạ thuyền viên, sổ nhật ký khai thác hải sản, giấy chứng nhận an toàn tàu cá rồi liên hệ với Võ Thị Kim T4 để mua giấy xác nhận đảo đã được các đảo trưởng ký sẵn án với giá 2,5 triệu đồng đến 03 triệu đồng/01 giấy. Mua của Nguyễn Văn L với giá 03 triệu đồng/01 giấy, cộng với tiền nhờ L đăng ký danh sách hải quân vùng 4 với giá 1,5 triệu đồng; Mua của Ngô Chí T, Đặng N N, Lê N P, Lư ng Duy H, Phạm Văn L và tên T (không rõ họ tên ở C) với giá từ 2,5 triệu đồng đến 05 triệu đồng/01 giấy; Để ký xác nhận xuất, nhập ến thì Ngô Thị H thuê tên T, hoặc N ( không rõ họ tên) là thuyền trưởng của 02 tàu cá của mình và tên Tín (không rõ họ tên địa chỉ) đi ký xác nhận giấy xuất, nhập ến với giá 4,5 triệu đồng/01 lần và H liên hệ với

các đồn trưởng như: Nguyễn Hữu B, Nguyễn Đình D, Phan H T ký khống xuất

nhập ến với giá từ 01 triệu đến 02 triệu đồng/01 lần xuất, nhập. Còn đối với

việc nhắn tin ằng máy nhắn tin HF thì H thuê Lê Văn H và Cao Văn S cứ mỗi

lần nhắn được 05 tin thành công thì H trả tiền công cho Cao Văn S và Lê Văn H

với giá từ 40 triệu đồng đến 70 triệu đồng.

Như vậy, từ năm 2012 đến năm 2016, có 183 chủ tàu cá đã thông qua Ngô

Thị H, Nguyễn Thị T T, Huỳnh Thị Bích H, Phạm Văn T1, Nguyễn Thiện Q,

Nguyễn T D, Đặng Hoàng T2, Lê Văn G , Lê Văn V, Ngô Thị H và tên P

(không rõ họ tên) làm khống 928 hồ s hỗ trợ chi phí nhiên liệu chiếm đoạt của

Nhà nước 40.051.000.000đ; Trong đó, Ngô Thị H khai nhận đã mua giấy xác

nhận đảo của Nguyễn Văn L, Ngô Chí T, Lư ng Duy H, Đặng N N và tên T

(không rõ họ tên) mua của Võ Thị Kim T4, Phan Thị N, Lê Văn V để làm khống

cho 183 chủ tàu với số lượng 885 hồ s , chiếm đoạt 37.762.000.000đ, các chủ

tàu cá đã khắc phục hậu quả 32.504.000.000 đồng. Còn lại 7.547.000.000đ các

chủ tàu cá chưa khắc phục được. Riêng Ngô Thị H được các chủ tàu cá đã chi

trả với số tiền 9.200.300.000 đồng. Còn Huỳnh Thị Bích H, Phạm Văn T1,

Nguyễn Thiện Q, Nguyễn Thị T T, Nguyễn T D, Đặng Hoàng T2, Lê Văn G ,

Lê Văn V và tên P (không rõ họ tên) làm hồ s cho 16 chủ tàu, với số lượng 43

hồ s , chiếm đoạt 2.289.000.000đ các chủ tàu đã trả tiền công với số tiền

688.000.000đ; cụ thể như sau:

* 03 tàu cá của Ngô Thị H đã làm giả 32 hồ sơ, chiếm đoạt

1.655.000.000đ/27 hồ sơ, chưa khắc phục hậu quả; cụ thể;

1. Tàu cá BĐ 96389TS do Đặng Văn L (chồng H) đứng tên chủ sở hữu.

Đặng Văn L khai nhận quá trình khai thác hải sản, tàu cá thực tế không khai thác

vùng iển xa, nên không đủ điều kiện để được hỗ trợ chi phí nhiên liệu theo quy

định. Nhưng từ năm 2013 đến 2015, Ngô Thị H đã nhờ ký khống giấy xác nhận

tàu cá khai thác hải sản vùng iển xa và gửi máy nhắn tin HF (cho một người

không rõ họ tên) đến vùng iển xa nhắn tin làm khống 12 hồ s hỗ trợ chi phí

nhiên liệu, chiếm đoạt của Nhà nước 455.000.000 đồng/09 hồ s .

Cách thức làm hồ s như sau: Năm 2013, Đặng Văn L đã tháo máy nhắn

tin HF trên tàu và đưa sổ danh ạ thuyền viên cho Ngô Thị H để làm giả 12 hồ

s ằng hình thức ký giấy xác nhận đảo và nhắn tin máy HF. Sau khi ký xong

hoàn chỉnh hồ s rồi mang đi nộp tại Trạm Thủy sản huyện H. Sau đó, viết giấy

ủy quyền cho Ngô Thị H đến kho ạc Nhà nước huyện H nhận tiền hỗ trợ.

2. Tàu cá BĐ97208TS do Đặng Hà B (con trai của H) đứng tên chủ sở

hữu.

Năm 2014, Ngô Thị H mua tàu cá này và đứng tên chủ sở hữu là Đặng Hà

B và thuê một người tên N (ở Vũng Tàu) làm thuyền trưởng và đi iển cho tàu cá này. T tế tàu cá này, không khai thác hải sản vùng iển xa nên không đủ điều kiện để được hỗ trợ chi phí nhiên liệu theo quy định. Từ năm 2014 đến 2016, Ngô Thị H đã thông qua các cán ộ Hải quân như Ngô Chí T, Lư ng Duy H, Đặng N N và tên T (không rõ họ tên) nhờ ký khống giấy xác nhận tàu cá khai thác hải sản vùng iển xa, làm 10 hồ s hỗ trợ chi phí nhiên liệu cho tàu cá, chiếm đoạt của Nhà nước 600.000.000 đồng/08 hồ s . Tuy nhiên, quá trình điều tra H khai lại là dùng tàu cá BĐ 97208TS do N (không rõ họ tên địa chỉ) làm thuyền trưởng mang mẫu giấy xác nhận đảo, rồi nhờ các đảo trưởng ký khống giấy xác nhận. C quan điều tra đã xác minh, nhưng chưa xác định được người có tên N (không rõ họ, tên địa chỉ) là thuyền trưởng tàu cá nêu trên.

3. Tàu cá BĐ 96318 TS do Nguyễn Quyết T đứng tên chủ sở hữu

Đầu năm 2014, Ngô Thị H mua tàu cá BĐ96318TS và lấy tên cháu ruột là

Nguyễn Quyết T đứng tên chủ sở hữu. T tế, Nguyễn Quyết T không đi iển trên tàu cá này, mà Ngô Thị H thuê một người tên T (không rõ lai lịch, ở Vũng Tàu) làm thuyền trưởng. Tàu cá này được Chi cục Thủy sản B Định lắp đặt một máy nhắn tin định vị HF để nhắn tin làm hồ s hỗ trợ nhưng Ngô Thị H đã gửi máy nhắn tin HF cho Lê Văn H mang đến iển xa nhắn tin làm khống 10 hồ s hỗ trợ chi phí nhiên liệu, chiếm đoạt của Nhà nước 600.000.000 đồng/08 hồ s .

Tiếp đến tháng 05 năm 2016, để tiếp tục làm hồ s cho tàu cá này, H đã gửi

Sổ danh ạ thuyền viên cho Huỳnh Thị G để ký khống xuất nhập ến thì ị phát hiện và tạm giữ sổ danh ạ nêu trên. C quan điều tra không có c sở để xác minh tên T ở đâu để tiến hành lấy lời khai để điều tra.

* Các bị cáo là đối tượng môi giới giúp Ngô Thị H đi ký giấy xác nhận

đảo, mang máy HF nhắn tin và bán giấy xác nhận đảo cho Ngô Thị H giả hồ sơ cho các chủ tàu cá, cụ thể như sau:

1. Lê Văn H chủ sở hữu tàu cá BĐ 96326 TS. Tàu cá này được Chi cục

Thủy sản B Định lắp đặt một máy nhắn tin định vị HF. Năm 2015 đến 2016, Ngô Thị H àn ạc với vợ, chồng Lê Văn H, Huỳnh Thị G mang một số mẫu giấy xác nhận đảo và máy HF đến đảo xa để ký xác nhận và nhắn tin định vị máy HF giúp Ngô Thị H làm hồ s hỗ trợ chi phí nhiên liệu cho các tàu cá, Ngô Thị H thỏa thuận trả tiền công cho Lê Văn H mỗi chuyến ký giấy xác nhận một đảo là 40.000.000 đồng, nếu ký xác nhận 02 đảo là 70.000.000đ. Còn việc nhắn tin máy HF, nếu nhắn tin thành công được trả 4.000.000 đồng. Hai ên thống nhất thì Ngô Thị H đã 06 lần thuê Lê Văn H mang mẫu giấy xác nhận đảo đến các đảo xa như: Đảo An Bang, đảo S Ca ký khống và mang máy nhắn tin HF

của các tàu cá đến vùng iển xa để nhắn tin giúp Ngô Thị H làm hồ s cho 19

chủ tàu cá như Đỗ T, Trư ng Văn L, Nguyễn Văn N, Nguyễn V, Đinh Văn M,

Trư ng Văn H, Tôn Văn L, Trần Viết P, Phan C L, Nguyễn C, Đỗ R, Võ

Hoàng T, Nguyễn Đ, Võ Văn C, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn

Đ, Nguyễn Văn P, Trần T làm khống 30 hồ s chiếm đoạt của Nhà nước

1.415.000.000 đồng. Ngô Thị H trả tiền cho vợ, chồng Lê Văn H tổng cộng

300.000.000 đồng. Quá trình điều tra và tiến hành đối chất với Ngô Thị H thì H

chỉ thừa nhận có thuê vợ chồng Lê Văn H mang mẫu giấy xác nhận đảo và máy

nhắn tin HF để thực hiện việc làm hồ s cho các chủ tàu cá nêu trên, nhưng chỉ

trả tiền công cho vợ chồng Lê Văn H là 100.000.000đ.

Ngoài ra, vào khoảng tháng 5/2016, Ngô Thị H tiếp tục gửi 15 sổ danh ạ

thuyền viên của 15 tàu cá và 4.500.000đ cho Huỳnh Thị G mang vào Bến C,

tỉnh Ninh Thuận để ký khống nhập ến, nhưng chưa ký được thì ị phát hiện

kiểm tra và tạm giữ 15 sổ danh ạ thuyền viên và 4.500.000đ để xác minh xử lý.

2. Nguyễn Văn L. Thông qua mối quan hệ quen iết với các đảo trưởng

như Ngô Chí T, Lư ng Duy H, V Minh T, Lê N P và iết được Ngô Thị H có

nhu cầu mua giấy xác nhận đảo đã được các đảo trưởng ký sẵn để làm hồ s hỗ

trợ chi phí nhiên liệu. Từ năm 2012 đến 2015, Nguyễn Văn L liên hệ với các

đảo trưởng mua nhiều giấy xác nhận đảo đã được ký sẵn với giá 1.800.000đ đến

2.000.000đ, rồi án lại cho Ngô Thị H với giá 2.000.000đ đến 2.300.000đ để

giúp Ngô Thị H làm hồ s giả cho các chủ tàu cá, nhưng L không nhớ án cho H

bao nhiêu giấy xác nhận đảo khống và được Ngô Thị H chuyển tiền vào tài

khoản của L và Ngô Thị S (vợ L), Nguyễn Thị Kim O (con L) với số tiền

1.201.000.000đ.

Ngoài ra, năm 2012 đến 2015, Nguyễn Văn L đã án giấy xác nhận đảo

cho Huỳnh Thị Bích H, Lê Văn V, Phan Thị N, Nguyễn Thị Thu H làm hồ s hỗ

trợ chi phí nhiên liệu. Tuy nhiên, qua thu thập chứng từ tại ngân hàng xác định

Huỳnh Thị Bích H, Lê Văn V, Phan Thị N, Nguyễn Thị Thu H đã chuyển vào

tài khoản ngân hàng cho Nguyễn Văn L và người thân của L là 1.866.000.000

đồng tiền. Nguyễn Văn L đã nhiều lần chi trả cho các đảo trưởng ằng tiền mặt

và qua số tài khoản của gia đình như Ngô Chí T,V Minh T, Lư ng Duy H, Lê N

P với số tiền 1.646.000.000đ (trong đó chuyển qua tài khoản với số tiền

1.190.000.000đ, còn lại 435.500.000đ chi trả ằng tiền mặt), còn lại

180.000.000đ L hưởng lợi (tức 200.000 đồng/giấy). Nguyễn Văn L đã nộp lại

số tiền 180.000.000 đồng nêu trên cho C quan điều tra.

3. Nguyễn Phước P chủ sở hữu tàu cá BĐ 97147 TS. Từ năm 2014 đến

2016, Nguyễn Phước P gặp Ngô Thị H đặt vấn đề làm hồ s hỗ trợ chi phí nhiên

liệu cho tàu cá thì được H đồng ý và thỏa thuận tiền công làm giả là 18.000.000 đồng/01 hồ s . Sau khi thống nhất, Nguyễn Phước P về nhà lấy giấy tờ tàu cá đưa cho Ngô Thị H để H gửi đi ký giấy xác nhận đảo và hướng dẫn chủ tàu viết đ n đề nghị hỗ trợ, viết sổ nhật ký khai thác hải sản, pho tô công chứng hoàn chỉnh hồ s mang đi nộp tại Trạm thủy sản H. Ngô Thị H đã giúp Nguyễn Phước P làm khống 12 hồ s , chiếm đoạt của Nhà nước 900.000.000 đồng/12 hồ s . Gia đình P đã trả tiền công cho Ngô Thị H là 164.000.000 đồng/08 hồ s . Riêng năm 2016, P chưa trả tiền công làm hồ s cho Ngô Thị H vì H đã ị ắt. Gia đình chủ tàu cá khắc phục hậu quả 290.000.000 đồng. Còn lại số tiền 610.000.000đ chưa khắc phục.

4. Trương Văn L là chủ sở hữu tàu cá BĐ 95694 TS. Từ năm 2013 đến

2016, Trư ng Văn L và vợ Phạm Thị N đã thông qua Ngô Thị H làm khống hồ s hỗ trợ chi phí nhiên liệu và thỏa thuận tiền công làm hồ s là 17.000.000đ đến 18.000.000đ/01 hồ s . Sau khi thống nhất, Phạm Thị N cung cấp giấy tờ tàu cá cho Ngô Thị H để H gửi cho Võ Thị Kim T4 ký xuất, nhập ến với giá 700.000đ/ lần, còn giấy xác nhận đảo thì H mua của Nguyễn Văn L, Ngô Chí T và thuê Lê Văn H đi ký khống giấy xác nhận đảo. Sau khi ký xong, Ngô Thị H đã làm khống 14 hồ s , chiếm đoạt của Nhà nước 885.000.000 đồng/12 hồ s . Gia đình chủ tàu đã khắc phục hậu quả 240.000.000đ, còn 645.000.000đ chưa khắc phục được.

5. Bùi Xuân V: Bùi Xuân V đứng tên chủ sở hữu tàu cá BĐ 97127TS,

nhưng thực tế tàu cá này là của à Võ Thị T ( à ngoại của V), Bùi Xuân V chỉ đứng tên. Từ năm 2013 - 2016, à Võ Thị T đã đặt vấn đề với Ngô Thị H làm giả hồ s thì được H đồng ý và thỏa thuận tiền công là 35.000.000 đồng/hồ s . Sau đó, Võ Thị T cung cấp giấy tờ tàu cá cho Ngô Thị H để H gửi cho Tín đi ký xuất nhập ến. H chi trả cho Tín với giá 4.000.000đ/01 lần ký; còn giấy xác nhận đảo thì H mua của T (không rõ địa chỉ) giúp chủ tàu cá làm khống 14 hồ s , chiếm đoạt của Nhà nước 750.000.000 đồng/10 hồ s , đã khắc phục hậu quả 300.000.000đ. Còn 450.000.000đ chưa khắc phục cho Nhà nước, nhưng đã trả tiền công cho Ngô Thị H 350.000.000 đồng/10 hồ s .

Tất cả việc làm khống hồ s đều do Võ Thị T và Ngô Thị H thực hiện,

Bùi Xuân V đi iển và có iết việc à Võ Thị T nhờ Ngô Thị H giúp làm khống hồ s hỗ trợ chi phí nhiên liệu. Bùi Xuân V chỉ tham gia ký tên vào hồ s đề nghị hỗ trợ chi phí nhiên liệu và viết giấy ủy quyền cho Võ Thị T nhận tiền hỗ trợ tại Kho ạc Nhà nước huyện H. Bùi Xuân V đã khắc phục hậu quả 300.000.000 đồng. Tuy nhiên, khi khởi tố Võ Thị T ị tai iến nằm một chỗ không đi lại được và không thể tiến hành lấy lời khai của à T, nên có đủ c sở quy kết Bùi Xuân V cùng với Võ Thị T đã tham gia với Ngô Thị H làm hồ s khống để được Nhà nước hỗ trợ.

6. Nguyễn Văn L chủ sở hữu tàu cá BĐ 96579 TS. Từ năm 2013 đến

2015, vợ chồng Nguyễn Văn L và Đặng Thị H D đã liên hệ thỏa thuận và cung

cấp giấy tờ tàu cá cho Ngô Thị H. Khi nhận được giấy tờ tàu cá, H nhờ Võ Thị

Kim T4 ký khống xuất nhập ến, còn giấy xác nhận đảo mua của Lê Văn V,

Nguyễn Văn L, Ngô Chí T với giá từ 2 triệu đồng đến 3 triệu đồng/01 giấy,

ngoài ra, Ngô Thị H còn thuê Lê Văn H, Cao Văn S ký khống giấy xác nhận

đảo làm 02 hồ s , chiếm đoạt 110.000.000đ. Khi có được giấy xuất nhập ến và

giấy xác nhận đảo. Ngô Thị H hướng dẫn chủ tàu cá làm 12 hồ s đều ằng hình

thức ký khống giấy xác nhận đảo chiếm đoạt của Nhà nước 640.000.000đ/12 hồ

s . Gia đình, Nguyễn Văn L đã khắc phục hậu quả 400.000.000đ. Còn

240.000.000đ chưa khắc phục xong. Gia đình Nguyễn Văn L đã chi trả tiền công

cho Ngô Thị H là 36.000.000đ (tức 18.000.000đ/01 hồ s ). Sau khi Ngô Thị H

ị ắt, vợ chồng Nguyễn Văn L tiếp tục trả tiền công làm 02 hồ s còn lại cho

Đặng Văn L (chồng Ngô Thị H) là 36.000.000đ. Tổng cộng, đã trả cho Ngô Thị

H là 64.000.000đ. Đặng Văn L đã nộp lại số tiền 34.000.000đ cho c quan điều

tra.

7. Đỗ R chủ sở hữu tàu cá BĐ 96340 TS. Từ năm 2013 đến 2016, Đỗ R

đã liên hệ thỏa thuận và cung cấp giấy tờ tàu cá cho Ngô Thị H làm khống 11 hồ

s hỗ trợ chi phí nhiên liệu ằng hình thức ký khống xác nhận đảo, chiếm đoạt

của Nhà nước 475.000.000 đồng/09 hồ s . Đỗ R đã trả tiền công làm khống hồ

s cho Ngô Thị H 18.000.000/01 hồ s , riêng có một lần trả tiền công cho Ngô

Thị H với số tiền 10.000.000đ/01 hồ s . Tổng cộng đã trả cho Ngô Thị H là

154.000.000 đồng/09 hồ s .

Ngoài ra, năm 2013 vợ chồng Đỗ R và Nguyễn Thị Chiểu còn cung cấp

giấy tờ tàu cá cho Lê Văn G làm khống 02 hồ s hỗ trợ chi phí nhiên liệu đều

ằng hình thức ký khống xác nhận đảo, chiếm đoạt của Nhà nước 90.000.000

đồng/02 hồ s . Sau khi nhận được tiền hỗ trợ, Đỗ R đã trả tiền công làm khống

hồ s cho Lê Văn G 15.000.000/01 hồ s , tổng cộng đã trả 30.000.000/02 hồ

s . Như vậy, từ năm 2013 đến 2016, Đỗ R đã làm khống tổng cộng 13 hồ s hỗ

trợ chi phí nhiên liệu tàu cá khai thác hải sản xa ờ, chiếm đoạt của Nhà nước

565.000.000 đồng/11 hồ s . Đỗ R chưa khắc phục hậu quả.

8. Võ Hoàng T chủ sở hữu 02 tàu cá BĐ 96954 TS và BĐ 95505 TS. Từ

năm 2013 đếm 2015, Võ Hoàng T cùng vợ là Nguyễn Thị Hiệp đã liên hệ, thỏa

thuận và cung cấp các giấy tờ tàu cá cho Ngô Thị H làm khống 12 hồ s hỗ trợ

chi phí nhiên liệu chiếm đoạt của Nhà nước 545.000.000 đồng/11 hồ s và đã

khắc phục hậu quả 60.000.000 đồng, còn số tiền 485.000.000đ chưa khắc phục

cho Nhà nước.

9. Nguyễn C chủ sở hữu tàu cá BĐ 97205 TS. Năm 2014, vợ chồng

Nguyễn C có mượn của Ngô Thị H với số tiền là 130.000.000đ để mua máy thủy lực thay cho tàu cá. Sau đó, thỏa thuận với Ngô Thị H làm giả hồ s và ủy quyền cho Ngô Thị H nhận tiền hỗ trợ 04 hồ s đầu thì được H đồng ý. Từ năm 2014 đến 2015, vợ chồng Nguyễn C và Huỳnh Thị Vờn đã liên hệ thỏa thuận và cung cấp giấy tờ tàu cá cho Ngô Thị H để H gửi cho Nguyễn Đình D (trạm trưởng Trạm Biên phòng H, tỉnh Khánh Hòa) ký xuất nhập ến và mua giấy xác nhận đảo của Nguyễn Văn L, Ngô Chí T với giá từ 2 triệu đến 3 triệu đồng/01 giấy và thuê Lê Văn H mang giấy xác nhận đảo để ký khống, giúp Ngô Thị H làm khống 08 hồ s hỗ, chiếm đoạt của Nhà nước 525.000.000 đồng/07 hồ s . Nguyễn C đã khắc phục hậu quả 130.000.000 đồng, còn lại số tiền 395.000.000đ chưa khắc phục cho Nhà nước.

10. Lý T B chủ sở hữu tàu cá BĐ 96222 TS. Từ năm 2013 - 2014, Lý T B

và vợ là Nguyễn Thị Như Thủy đã liên hệ, thỏa thuận và cung cấp giấy tờ tàu cá cho Ngô Thị H để làm khống 08 hồ s , ằng hình thức ký khống giấy xác nhận đảo, chiếm đoạt của Nhà nước 425.000.000 đồng/07 hồ s . Lý T B đã khắc phục hậu quả 230.000.000 đồng. Còn lại số tiền 195.000.000đ, chưa khắc phục cho Nhà nước. Lý T B đã trả tiền công cho Ngô Thị H là 115.000.000 đồng/07 hồ s .

11. Nguyễn Phước T chủ sở hữu tàu cá BĐ 96110 TS. Từ năm 2013 đến

2015 thực tế này không khai thác vùng iển xa, không trực tiếp đến các đảo xa để ký xác nhận đảo và cũng không đủ điều kiện để được hỗ trợ chi phí nhiên liệu, mà vợ, chồng Nguyễn Phước T đã thông qua Ngô Thị H làm giả 12 hồ s hỗ trợ chi phí nhiên liệu ằng hình thức ký khống giấy xác nhận đảo, chiếm đoạt của Nhà nước 350.000.000 đồng/12 hồ s . Gia đình chủ tàu cá đã khắc phục nộp lại cho Nhà nước là 190.000.000 đồng, còn lại số tiền 160.000.000đ chưa khắc phục cho Nhà nước.

12. Cao Văn S chủ sở hữu tàu cá BĐ 96476 TS. Tàu cá được Chi cục

Thủy sản B Định lắp đặt một máy nhắn tin định vị HF. Năm 2014, vợ chồng Cao Văn S đến nhà Ngô Thị H vay số tiền 100 triệu đồng và H àn ạc với Cao Văn S và thuê S mang một số mẫu giấy xác nhận đảo và máy HF đến đảo xa để ký xác nhận và nhắn tin định vị máy HF giúp Ngô Thị H làm cho 03 chủ tàu cá như Nguyễn V, Võ Hoàng T, Ngô Văn Tốt làm khống 03 hồ s , ằng hình thức ký giấy xác nhận đảo, chiếm đoạt của Nhà nước 185.000.000 đồng. Ngô Thị H trả tiền thuê Cao Văn S là 31.000.000đ. Cao Văn S đã nộp lại số tiền 31.000.000đ.

13. Lý Văn T chủ sở hữu tàu cá BĐ 96550 TS. Năm 2016, thực tế tàu cá

này không khai thác ở vùng iển xa, không trực tiếp đến các đảo xa để ký xác

nhận hồ s nên không đủ điều kiện để được hỗ trợ chi phí nhiên liệu, nhưng Lý

Văn T đã liên hệ với Ngô Thị H làm giả hồ s hỗ trợ chi phí nhiên liệu thì được

H đồng ý và thỏa thuận tiền công làm hồ s là 18.000.000 đồng/01 hồ s . Sau

khi thống nhất, Lý Văn T về nhà lấy giấy tờ tàu cá đưa cho Ngô Thị H để H gửi

đi ký khống giấy xác nhận đảo làm giả 03 hồ s , chiếm đoạt của Nhà nước

110.000.000 đồng.

Ngoài ra trong vụ án này còn có 127 chủ tàu cá khác đã có hành vi cùng

Ngô Thị H làm khống các giấy tờ để chiếm đoạt tiền của nhà nước nhưng không

ị khởi tố hoặc đã được c quan điều tra, VKSND tỉnh B Định đình chỉ khởi tố,

truy tố theo chính sách hình sự cá iệt.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2019/HS-ST ngày 30/9/2019, Tòa án

nhân dân tỉnh B Định đã quyết định:

Tuyên bố: Các ị cáo Ngô Thị H, Trư ng Văn L, Đỗ R, Võ Hoàng T,

Nguyễn C, Cao Văn S đều phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

* Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm , s khoản 1, 2 Điều 51; điểm

g khoản 1 Điều 52; Điều 54 của BLHS.

- Xử phạt: Bị cáo Ngô Thị H 10 (mười) năm tù, thời hạn chấp hành hình

phạt tù tính từ ngày ị ắt tạm giam 15.5.2018.

* Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm , s khoản 1, 2 Điều 51; điểm

g khoản 1 Điều 52; Điều 54 BLHS;

- Xử phạt: Bị cáo Trư ng Văn L 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình

phạt tù tính từ ngày ị ắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giam trước từ

ngày 26.5.2017 đến 19.01.2018.

* Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g

khoản 1 Điều 52; Điều 54 BLHS.

- Xử phạt: Bị cáo Đỗ R 09 (chín) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù

tính từ ngày ị ắt đi thi hành án.

* Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm , s khoản 1, 2 Điều 51; điểm

g khoản 1 Điều 52; Điều 54 BLHS.

- Xử phạt: Bị cáo Võ Hoàng T 07 ( ảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình

phạt tù tính từ ngày ị ắt đi thi hành án.

* Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm , s khoản 1, 2 Điều 51; điểm

g khoản 1 Điều 52; Điều 54 BLHS.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn C 07 ( ảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt

tù tính từ ngày ị ắt đi thi hành án

* Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 174; điểm , s khoản 1, 2 Điều 51; điểm

g khoản 1 Điều 52 BLHS.

- Xử phạt: Cao Văn S 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình

phạt tù tính từ ngày ị ắt đi thi hành án.

* Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng điểm khoản 1 Điều 46; Điều 48 của

BLHS năm 2015; Buộc các ị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải trả lại cho ị hại là UBND tỉnh B Định số tiền cụ thể như sau:

- Bị cáo Ngô Thị H phải nộp số tiền 455.000.000đ.

- Bị cáo Đỗ R phải nộp số tiền 565.000.000đ

- Bị cáo Trư ng Văn L số tiền 645.000.000đ.

- Bị cáo Nguyễn C phải nộp số tiền 195.000.000đ

- Bị cáo Nguyễn Phước P phải nộp số tiền 160.000.000đ. (đã nộp xong)

- Bị cáo Võ Hoàng T phải nộp số tiền 485.000.000đ

- Bị cáo Lý Văn T phải nộp số tiền 110.000.000đ. (đã nộp xong)

- Bị cáo Bùi Xuân V nộp số tiền 450.000.000đ. (đã nộp xong)

- Bị cáo Nguyễn Văn L phải nộp số tiền 240.000.000đ. (đã nộp xong)

- Bị cáo Lý T B phải nộp số tiền 195.000.000đ (đã nộp xong)

- Bị cáo Nguyễn Phước T phải nộp số tiền 160.00.000đ (đã nộp xong)

- Lê Văn Hướng phải nộp số tiền 400.000.000đ.

- Phan C L phải nộp số tiền 380.000.000đ.

- Đinh Văn M phải nộp số tiền 335.000.000đ.

- Nguyễn Thị N phải nộp số tiền 280.000.000đ.

- Võ T T phải nộp số tiền 255.000.000đ.

- Lê Văn Thêm phải nộp số tiền 117.000.000đ.

- Trư ng Văn H phải nộp số tiền 144.000.000đ.

- Đỗ Văn G phải nộp số tiền 516.000.000đ.

- Đỗ Văn N phải nộp số tiền 645.000.000đ.

- Trần Minh P phải nộp số tiền 215.000.000đ.

- Đặng Văn H phải nộp số tiền 165.000.000đ.

Tiếp tục tạm giữ số tiền các ị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

đã nộp để đảm ảo thi hành án.

(Theo các iên lai thu tiền số 08062, 08059, 08037, 08067, 08073, 08100,

08097, 08071, 08066, 08099, 08106, 08126, 08130 của Cục THADS tỉnh B

Định và Theo ủy nhiệm chi số 03 ngày 09.7.2019 giữa C quan điều tra Công an

tỉnh B Định và Cục THADS tỉnh B Định)

Ngoài ra, ản án s thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền

kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử s thẩm:

Bị cáo Nguyễn C, bị cáo Cao Văn S kháng cáo với cùng nội dung xin

được hưởng án treo.

Bị cáo Đỗ R, bị cáo Trư ng Văn L kháng cáo với cùng nội dung xin được

miễn trách nhiệm hình sự.

Bị cáo Võ Hoàng T kháng cáo yêu cầu xem xét lại số tiền còn phải bồi

thường cho nhà nước.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đỗ Văn N, Đỗ Văn G, Đinh Văn

M và Nguyễn Thị N kháng cáo cùng với nội dung yêu cầu xem xét lại số tiền

còn phải hoàn trả cho nhà nước.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các ị cáo Trư ng Văn L, Đỗ R, Nguyễn C đều vắng mặt; bị cáo Cao

Văn S có mặt và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; nhưng người có quyền và nghĩa

vụ liên quan giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng

trình ày quan điểm như sau: Kháng cáo của các ị cáo Võ Hoàng T, Nguyễn C,

Cao Văn S, Đỗ R, Trư ng Văn L và những người có quyền và nghĩa vụ liên

quan là hợp lệ đủ điều kiện cấp phúc thẩm xem xét. Đối với bị cáo Võ Hoàng T

đã chết đề nghị đình chỉ xét xử phúc thẩm. Xét kháng cáo của các ị cáo và

những người liên quan thấy Tòa án s thẩm đã xét xử và tuyên phạt các ị cáo

và uộc bồi thường là đúng pháp luật; tại cấp phúc thẩm các ị cáo và những

người có quyền và nghĩa vụ liên quan kháng cáo nhưng không có tình tiết nào

mới khác; do đó đề nghị không chấp nhận kháng cáo của các ị cáo và những

người có quyền và nghĩa vụ liên quan, giữ nguyên ản án s thẩm.

Các ị cáo Trư ng Văn L, Đỗ R, Nguyễn C vắng mặt.

Bị cáo Cao Văn S trình ày: Án s thẩm xử tôi 18 tháng tù là nặng, hoàn

cảnh gia đình khó khăn, tôi đã nộp lại toàn ộ số tiền thu lợi bất chính, tôi ăn

năn hối cải về hành vi của mình xin được hưởng án treo.

Bị cáo Ngô Thị H trình ày: Về số tiền Tôi phải trả cho Nhà nước Tôi đã

khắc phục, việc bị cáo Võ Hoàng T và những người liên quan yêu cầu Tôi phải trả số tiền mà án s thẩm đã uộc họ trả Tôi không đồng ý; Tôi thừa nhận có nhận tiền của bị cáo T và những người liên quan nhưng để trừ nợ trong quan hệ vay nợ làm ăn, giấy nợ đã nộp công an điều tra còn tôi để ở nhà. Đối với bị cáo Cao Văn S Tôi có nhờ làm giả hồ s một lần đối với 3 chủ tàu nhưng chưa làm được, bị cáo S không nhận tiền chiếm đoạt gì của Nhà nước, đề nghị Tòa án phúc thẩm miễn hình phạt và giảm cho bị cáo S.

Người ào chữa cho bị cáo Nguyễn C trình ày: Tại phiên tòa hôm nay

vợ của bị cáo C trình ày sau khi xử s thẩm gia đình đã nộp đủ số tiền đền ù thiệt hại cho Thi hành án, đề nghị miễn hình phạt tù cho ị cáo C.

Người ào chữa cho bị cáo Đỗ R, Trư ng Văn L trình ày: Hiện nay hoàn

cảnh bị cáo Đỗ R, Trư ng Văn L rất khó khăn đề nghị Hội đồng xét xử tạo điều kiện thể hiện chính sách khoan hồng của nhà nước, miễn trách nhiệm hình sự. Sau này các ị cáo sẽ cố gắng hoàn trả tiền cho nhà nước, do hoàn cảnh khó khăn nên các ị cáo chưa thể bồi thường ngay được.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người có quyền lợi,

nghĩa vụ liên quan trình ày: Tại các ản lời khai, kết luận điều tra của bị cáo H, người liên quan đều thống nhất vấn đề giao dịch, làm hồ s . Vấn đề bỏ máy nâng công suất theo à H là mua án máy, đòi nợ, vay mượn tiền nhưng trong hồ s thể hiện không có giao dịch này, à H cho rằng giấy này để ở nhà. Đ giao dịch dân sự hai ên, còn tiền thu lợi bất chính từ làm sai hồ s không thể khấu trừ giao dịch dân sự. Mong Hội đồng xét xử xem xét toàn diện về lời khai, quy trình thực hiện. Nhận thấy có đủ căn cứ chứng minh có nhận tiền hưởng lợi mà người liên quan kháng cáo, trách nhiệm thuộc về bị cáo H.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Đỗ Văn N trình ày: Bà H phải trả tiền Bà đã nhận, còn tôi phải trả

số tiền 114.000.000, đồng đề nghị xem xét.

Ông Đỗ Văn G trình ày: Đề nghị buộc à hoa trả 396.000.000, đồng, còn

tôi phải trả 120.000.000, đồng.

Ông Đinh Văn M trình ày: Đề nghị buộc à H trả cho UBND tỉnh

320.000.000, đồng còn tôi phải trả 55.000.000, đồng đã nộp 40 triệu còn phải trả 15.000.000, đồng đề nghị xem xét.

Bà Nguyễn Thị N trình ày: Đề nghị à H phải trả cho UBND tỉnh B

Định 129.000.000, đồng à H đã nhận, tôi chỉ phải trả 151.000.000, đồng đề nghị xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các ị cáo Đỗ R, Trư ng Văn L, Nguyễn C đã hai lần vắng mặt tại

phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại Điều 351 Bộ luật

tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt các ị cáo.

L dụng Chính phủ an hành Quyết định số 48/2010/QĐ-TTg về chính

sách khuyến khích, hỗ trợ ngư dân khai thác hải sản và dịch vụ hải sản trên các

vùng iển xa. Từ năm 2012 đến năm 2016, có 183 chủ tàu cá đã thông qua Ngô

Thị H, Nguyễn Thị T T, Huỳnh Thị Bích H, Phạm Văn T1, Nguyễn Thiện Q,

Nguyễn T D, Đặng Hoàng T2, Lê Văn G , Lê Văn V và tên P (không rõ họ tên)

đã lập khống 928 hồ s hỗ trợ chi phí nhiên liệu chiếm đoạt của nhà nước

40.051.000.000, đồng; trong đó, Ngô Thị H đã mua giấy xác nhận đảo của

Nguyễn Văn L, Ngô Chí T, Lư ng Duy H, Đặng N N và tên T (không rõ họ tên)

mua của Võ Thị Kim T4, Phan Thị N, Lê Văn V để làm khống cho 183 chủ tàu

với số lượng 885 hồ s , chiếm đoạt 37.762.000.000, đồng, các chủ tàu đã khắc

phục hậu quả 32.504.000.000, đồng; còn lại 7.547.000.000, đồng chưa khắc

phục; riêng Ngô Thị H được các chủ tàu cá chi trả số tiền 9.200.300.000, đồng;

còn Huỳnh Thị Bích H, Đặng Hoàng T2, Phạm Văn T1, Nguyễn Thiện Q,

Nguyễn Thị T T, Nguyễn T D, Lê Văn G , Lê Văn V và tên P (không rõ họ tên)

làm hồ s cho 16 chủ tàu, với số lượng 43 hồ s chiếm đoạt số tiền

2.289.000.000 đồng các chủ tàu đã trả tiền công với số tiền 688.000.000, đồng.

Tòa án s thẩm đã xét xử các ị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo

quy định tại Điều 174 BLHS năm 2015 là đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của các ị cáo Đỗ R, Trư ng Văn L, Nguyễn C, Cao Văn

S, Võ Hoàng T:

Xét kháng cáo các ị cáo Đỗ R, Trư ng Văn L, Nguyễn C, thấy:

Các ị cáo thông qua ị cáo Ngô Thị H làm khống nhiều giấy tờ để chiếm

đoạt tiền của nhà nước với giá trị lớn, phạm tội thuộc trường hợp quy định tại

điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS; ị cáo Đỗ R chiếm đoạt 565.000.000, đồng

chưa nộp lại; ị cáo Trư ng Văn L chiếm đoạt 885.000.000, đồng đã nộp khắc

phục 240.000.000, đồng còn lại 645.000.000, đồng; ị cáo Nguyễn C chiếm đoạt

525.000.000, đồng đã nộp khắc phục 330.000.000, đồng còn lại phải nộp

195.000.000, đồng; các ị cáo điều phạm tội 2 lần trở lên nên thuộc trường hợp

tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Khi

quyết định hình phạt Tòa án cấp s thẩm đã căn cứ vào tính chất mức độ phạm

tội và nhân thân của từng ị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho từng ị cáo đồng thời áp dụng quy định tại Điều 54 BLHS xử phạt các ị cáo Đỗ R 9 năm tù, Trường Văn L 8 năm tù, Nguyễn C 7 năm tù là nhẹ có lợi cho các ị cáo.Tại cấp phúc thẩm các ị cáo R, L, C kháng cáo nhưng điều vắng mặt tại các phiên tòa phúc thẩm(hai lần vắng mặt), không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới khác; do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các ị cáo giữ nguyên quyết định của ản án s thẩm. Về trách nhiệm ồi thường dân sự tại phiên tòa Vợ của ị cáo Nguyễn C cho rằng sau khi xét xử s thẩm gia đình đã nộp khắc phục toàn ộ số tiền ồi thường cho c quan Thi hành án B Định, nhưng không có chứng cứ gì để xuất trình Hội đồng xét xử xem xét, do đó không được chấp nhận; Hội đồng xét xử giữ nguyên mức ồi thường án s thẩm, trường hợp gia đình ị cáo đã nộp sẽ được khấu trừ khi thi hành án.

Đối với ị cáo Cao Văn S, thấy: Tại phiên tòa ị cáo H cho rằng ị

cáo S chỉ phạm tội một lần nhưng chưa thành, ị cáo S không nhận tiền chiếm đoạt. Bị cáo Cao Văn S là chủ sở hữu tàu cá BĐ 96476 TS đã có hành vi giúp sức cho ị cáo Ngô Thị H làm giả các giấy xác nhận đảo và máy HF đến đảo xa (ký xác nhận và nhắn tin định vị máy HF giúp Ngô Thị H làm khống 03 hồ s ) chiếm đoạt của Nhà nước 185.000.000 đồng, được Ngô Thị H trả tiền thuê là 31.000.000đ; ị cáo Cao Văn S đã nộp lại toàn ộ số tiền 31.000.000, đồng chiếm đoạt; trong vụ án này những người có hành vi chiếm đoạt như ị cáo đã nộp khắc phục hậu quả được miễn trách nhiệm hình sự theo chính sách khoan hồng của Nhà nước (Thông áo số 2568/TB-ANĐT P2 ngày 15/11/2017 ý kiến của Liên ngành tố tụng trung ư ng); Bị cáo có n i cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu, hành vi phạm tội của ị cáo S xuất phát từ việc ị cáo có nợ tiền của ị cáo H nên lệ thuộc và theo lời xúi dục của ị cáo H, đã khắc phục hậu quả; hoàn cảnh gia đình ị cáo khó khăn (UBND xã H xác nhận); do đó chấp nhận kháng cáo của ị cáo cho ị cáo được hưởng án treo giao ị cáo cho chính quyền địa phư ng quản lý giáo dục trong thời gian thử thách cùng đảm ảo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Đối với cáo Võ Hoàng T: Bị cáo có đ n kháng cáo về trách nhiệm

bồi thường dân sự đối với bản án s thẩm, trong thời gian thụ lý giải quyết phúc thẩm bị cáo Võ Hoàng T đã chết vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 27/3/2020 (do gia đình ị cáo cung cấp tại phiên tòa phúc thẩm) tại Trường An 2, Hoài T, H, B Định. Theo đ n kháng cáo của bị cáo, ị cáo cho rằng án s thẩm buộc bị cáo phải bồi thường số tiền 485 triệu, số tiền này ị cáo đã đưa cho ị cáo H nhận 370 triệu nên bị cáo chỉ phải trả 115 triệu. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Ngô Thị H không thừa nhận trả số tiền 370 triệu như đ n kháng cáo của bị cáo. Tòa án s thẩm đã uộc bị cáo Võ Hoàng T phải trả số tiền đã chiếm đoạt

485.000.000, đồng (Bốn trăm tám mư i lăm triệu đồng) là có căn cứ đúng pháp

luật; tại cấp phúc thẩm không có chứng cứ nào mới khác do đó, Hội đồng xét xử

giữ nguyên mức bồi thường của án s thẩm. Do bị cáo đã chết nên khi thi hành

bản án C quan Thi hành án căn cứ vào tài sản để lại của bị cáo Võ Hoàng T,

buộc những người thừa kế di sản và quản lý di sản của Võ Hoàng T (hàng thừa

kế thứ nhất gồm mẹ, vợ và các con của Võ Hoàng T) phải thực hiện việc bồi

thường trong phạm vi tài sản của bị cáo T để lại.

Về kháng cáo xem xét lại mức ồi thường của những người có quyền

lợi, nghĩa vụ liên quan: Đỗ Văn N, Đỗ Văn G, Đinh Văn M và Nguyễn Thị N,

thấy: Các yêu cầu kháng cáo đều cho rằng ị cáo Ngô Thị H phải chịu trách

nhiệm ồi thường: Đối với ông Đỗ Văn N số tiền 531.000.000, đồng; đối với

ông Đỗ Văn G số tiền 396.000.000, đồng; đối với ông Đinh Văn M

320.000.000, đồng; đối với à Nguyễn Thị N là 129.000.000, đồng; tuy nhiên ị

cáo Ngô Thị H không thừa nhận; những người liên quan kháng cáo nhưng

không có chứng cứ gì mới khác để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo là có căn

cứ; Do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Đỗ Văn N, Đỗ

Văn G, Đinh Văn M và Nguyễn Thị N giữ nguyên ồi thường thiệt hại của ản

án s thẩm.

Các phần khác của Bản án s thẩm về trách nhiệm hình sự; về bồi

thường thiệt hại; tiếp tục tạm giữ số tiền các ị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan đã nộp để đảm bảo thi hành án; vật chứng vụ án, về án phí hình sự và

dân sự s thẩm không có kháng cáo, không ị kháng nghị có hiệu lực pháp luật

kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Với tính chất và mức độ phạm tội, hậu quả của hành vi phạm tội của

bị cáo Ngô Thị H, mức án Tòa án cấp s thẩm xử phạt bị cáo Ngô Thị H 10 năm

tù là quá nhẹ chưa tư ng xứng với hành vi phạm tội của bị cáo; về trách nhiệm

bồi thường dân sự Tòa án s thẩm không tuyên uộc các ị cáo có trách nhiệm

liên đới bồi thường thiệt hại cho người bị hại là không đúng pháp luật, những

người đồng phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng được miễn trách

nhiệm hình sự chưa đúng. Tuy nhiên, sau khi xét xử s thẩm các bị cáo không

kháng cáo và không ị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; Do đó, Hội đồng xét

xử kiến nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bị cáo Ngô

Thị H về hình phạt tù và trách nhiệm liên đới bồi thường cho người bị hại số tiền

các ị cáo đã gây thiệt hại, miễn trách nhiệm hình sự đối với các ị cáo được

miễn cho đúng pháp luật.

Các ị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm số tiền: 200.000,(Hai

trăm ngàn) đồng, theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật

tố tụng Hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Q hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356, điểm e khoản 1 Điều 357

của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của các ị cáo Trư ng Văn L, Đỗ R,

Nguyễn C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đỗ Văn N, Đỗ Văn G, Đinh Văn M và Nguyễn Thị N, giữ nguyên Bản án hình sự s thẩm số 55/2019/HS-ST ngày 30/9/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh B Định. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Văn S, sửa bản án s thẩm như sau:

* Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm , s khoản 1, 2 Điều 51; điểm

g khoản 1 Điều 52; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, ổ sung năm 2017).

- Xử phạt: Bị cáo Trư ng Văn L 08 (tám) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm

đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ị ắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giam trước từ ngày 26.5.2017 đến 19.01.2018.

* Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g

khoản 1 Điều 52; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, ổ sung năm 2017).

- Xử phạt: Bị cáo Đỗ R 09 (chín) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài

sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ị ắt đi thi hành án.

* Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm , s khoản 1, 2 Điều 51; điểm

g khoản 1 Điều 52; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, ổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn C 07 ( ảy) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài

sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ị ắt đi thi hành án

* Áp dụng: điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm c

khoản 2 Điều 174; điểm , s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, ổ sung năm 2017).

- Xử phạt: Cao Văn S 18 (mười tám) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt

tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 ( a mư i sáu) tháng tù tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 18/9/2020). Giao ị cáo Cao Văn S cho Uỷ an nhân dân xã H, huyện H, B Định giám sát, giáo dục. Gia đình ị cáo

có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phư ng trong việc giám sát, giáo

dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi n i cư trú thì thực hiện

theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.Trong thời gian thử

thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên thì Tòa án

có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù

của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới

thì Tòa án uộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp

với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm

2015.

* Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng điểm khoản 1 Điều 46; Điều 48 của

Bộ luật hình sự năm 2015; buộc các ị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan phải trả lại cho ị hại là Uỷ an nhân dân tỉnh B Định số tiền cụ thể như

sau:

- Bị cáo Ngô Thị H phải nộp số tiền 455.000.000,đồng(Bốn trăm năm

mư i lăm triệu đồng).

- Bị cáo Võ Hoàng T(C) phải nộp số tiền 485.000.000đồng (Bốn trăm tám

mư i lăm triệu đồng).

- Đinh Văn M phải nộp số tiền 335.000.000đồng (Ba trăm a mư i lăm

triệu đồng).

- Nguyễn Thị N phải nộp số tiền 280.000.000đồng (Hai trăm tám mư i

triệu đồng).

- Đỗ Văn G phải nộp số tiền 516.000.000đồng (Năm trăm mười sáu triệu

đồng).

- Đỗ Văn N phải nộp số tiền 645.000.000đồng (Sáu trăm ốn mư i lăm

triệu đồng).

2. Kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xem xét theo

thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm về hình phạt tù đối với bị cáo Ngô Thị H và

trách nhiệm liên đới bồi thường dân sự của bị cáo đối với người bị hại, những

người là chủ tàu cá có dấu hiệu tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng chưa ị

xem xét trách nhiệm hình sự, được miễn trách nhiệm hình sự.

3. Các Quyết định khác của bản án hình sự s thẩm số: 55/2019/HS-ST

ngày 30/9/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh B Định về trách nhiệm hình sự; về bồi

thường thiệt hại; về tiếp tục tạm giữ số tiền các ị cáo, người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan đã nộp để đảm bảo thi hành án; về vật chứng vụ án; về án phí hình sự và dân sự s thẩm không có kháng cáo, không ị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Án phí hình sự phúc thẩm:

Các bị cáo Trư ng Văn L, Đỗ R, Nguyễn C phải chịu 200.000, đồng (Hai

trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo Cao Văn S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đỗ Văn N, Đỗ Văn G,

Định Văn M và Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm số tiền 300.000, đồng(Ba trăm ngàn đồng).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành

án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự, Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ