- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Thị P bị truy tố về tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lâm Thị P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 239/2019/HSST Ngày 29 - 11 - 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Kim Cương
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông nguyễn Hoàng Dân;
2. Bà Trần Thị Mỹ Hương.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Vân – Thư ký Tòa án
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Tiết Ánh Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 231/2019/HSST ngày 07 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 899/2019/HSST – QĐXX ngày 11 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lâm Thị P, tên gọi khác: Lâm Thị Mỹ P; sinh năm: 1976; nơi sinh: Cà Mau; đăng ký nhân khẩu thường trú: Ấp T, xã B, thành phố M, tỉnh Cà Mau; chổ ở: Ấp T, xã B, thành phố M, tỉnh Cà Mau; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: không biết chữ; con ông: Lâm Văn T (còn sống); con bà Đoàn Thị S (còn sống); chồng: Mai Anh K; con: 01 người sinh năm 2008; anh chị em ruột 04 người; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa có án tích; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/8/2019 đến nay. (Bị cáo có mặt).
- Bị hại: Chị Đỗ Thanh T, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số 212/2,đường K, khóm 3, phường 6, thành phố M, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 19/6/2019 Lâm Thị P điều khiển xe môt tô biển kiểm soát 52F3-3249 đến nhà chị Lưu Mỹ N trú ấp T, xã B, thành phố M để hỏi thuê trọ (nhà bà N có bán quần áo may sẵn). Tại đây P nhìn thấy điện thoại di động hiệu VSMart màu đen của chị Đỗ Thanh T, trú khóm 3, phường 6, thành phố M là người đến mua quần áo, được để trên đầu tủ. P quan sát thấy không ai trông coi nên dùng tay lấy điện thoại trên bỏ vào túi quần. Sau khi lấy điện thoại, P điều khiển xe đến nhà chị Huỳnh Kim N, ngụ ấp T, xã B, thành phố M chơi rồi gửi điện thoại cho bà N và dặn có ai gọi thì đừng bắt máy.
Đối với chị T, sau khi chọn quần áo xong thì phát hiện điện thoại bị mất nên đến trụ sở ấp T, xã B trình báo sự việc và cho gia đình biết. Khoảng 11 giờ cùng ngày người nhà chị T gặp P để hỏi sự việc P thừa nhận hành vi trộm cắp điện thoại của T. Sau đó P đến nhà chị Huỳnh Kim N lấy điện thoại mang đến trụ sở Công an xã B, thành phố M giao nộp. Đồng thời giao nộp 01 xe mô tô biển số 52F3-3249.
Tại kết luận định giá tài sản số 67/KL-HĐĐG ngày03/74/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố cà Mau kết luận: Tính vào thời điểm tháng 6/2019:
- 01 (một) điện thoại di động Vsmart màu đen cảm ứng giá trị còn lại 90%: 2.990.000 đồng x 90% = 2.691.000 đồng.
Ngày 11/7/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau đã trả cho chị Đỗ Thanh T 01 điện thoại di động Vsmart màu đen.
Ngày 02/8/2019 Lâm Thị P nộp cho Cơ quan điều tra Công an thành phố Cà Mau 01 giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 52F3-3249. Đối với xe môtô số 52F3-3249, qua điều tra xác định xe này Lâm Thị P được em gái Lưu Thị Mỹ A cho để làm P tiện đi lại và được biết Ánh mua lại của người khác, trên giấy chứng nhận đăng ký xe thể hiện Trịnh Xuân H, trú 474, đường M, phường 11, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu. Tuy nhiên, qua tra cứu thông tin xác định không tìm thấy dữ liệu.
Tại cáo trạng số: 230/CT – VKS ngày 06 tháng 11 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau đã truy tố Lâm Thị P về tội “Trộm cắp tài sản” theo 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Taïi phieân toøa, ñaïi dieän Vieän kieåm saùt vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo cáo trạng đã nêu, và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Lâm Thị P phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo Lâm Thị P từ 06 tháng đến 09 tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo trộm cắp của bị hại chị Đỗ Thanh T đã nhận lại 01 điện thoại di động Vsmart màu đen. Hiện chị T không yêu cầu gì thêm về dân sự.
Về tang vật: Đối với xe môtô số 52F3-3249 giấy chứng nhận đăng ký xe thể hiện Trịnh Xuân H, hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau đã ủy thác điều tra nhưng chưa có kết quả. Vì vậy, tách ra giao Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, có cơ sở xử lý sau. Vật chứng xử lý: Tại phiên tòa: không.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Lời khai nhận của bị cáo Lâm Thị P tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại chị Đỗ Thanh T và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án từ đó đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 09 giờ ngày 16/9/2019, tại khu vực ấp T, xã B, thành phố M bị cáo Lâm Thị P có hành vi lén lút lấy trộm của chị Đỗ Thanh T 01 (một) điện thoại di động hiệu Vsmart màu đen, trị giá tài sản theo định giá là 2.691.000 đồng, nhằm mục đích để tư lợi cá nhân.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bản tính lười lao động muốn có tài sản sử dụng cá nhân mà bị cáo vẫn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự đúng như Viện kiểm sát đã truy tố.
Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy, hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của những người khác, gây mất an ninh trật tự xã hội tại địa P nên cần có hình phạt tương xứng với tính chất và hành vi mà bị cáo đã gây ra nhằm đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến tình tiết bị cáo có nhân thân tốt không tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu trong trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị không lớn; bị hại có đơn bãi nại xin không xem xét xử lý hình sự đối với bị cáo, nên đây là những tình tiết giảm nhẹ khi lượng hình cho bị cáo.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá nêu trên và đối chiếu với quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, có địa chỉ thường trú rõ ràng, nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cho bị cáo hưởng án treo tạo điều kiện cho bị cáo về địa P giám sát, giáo dục cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội. Đồng thời, thể hiện được chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với người phạm tội biết ăn năn, hối cải như bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Đỗ Thanh T đã nhận lại toàn bộ số tài sản bị trộm cắplà 01 điện thoại di động Vsmart màu đen hiện chị T không yêu cầu về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
Đối với xe môtô số 52F3-3249 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe tên Trịnh Xuân H, hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau đã ủy thác điều tra nhưng chưa có kết quả. Vì vậy, tách ra giao Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, có cơ sở xử lý sau là phù hợp.
Về thủ tục tố tụng, bị hại chị Chị Đỗ Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng chị T có ý kiến xin vắng mặt tại phiên xét xử và hiện chị T xác định không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo. Xét thấy, việc vắng mặt chị T không gây trở ngại xét xử nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị T.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s h khoản 1, khoản 2 Điều 51 ; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Lâm Thị P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Xử phạt bị cáo Lâm Thị P 12 tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24tháng, thời hạn được tính kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Lâm Thị P cho Ủy ban nhân dân xã B, thành phố M, tỉnh Cà Mau giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng bị cáo phải nộp (chưa nộp).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - Trại tạm giam Tp Cà Mau; - VKSND tỉnh Cà Mau; VKSND TP Cà Mau; - Bị cáo, bị hại; - Cơ quan điều tra CATPCM; - Cơ quan THA hình sự, THA dân sự TP Cà Mau; - UBND xã B, TP M, tỉnh Cà Mau; Lưu hồ sơ, AV, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Kim Cƣơng |