- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 239/2019/HS-PT Ngày: 26-9-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh
Các thẩm phán: Ông Đinh Chí Tâm
Bà Nguyễn Thị Võ Trinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Nhựt Minh - Th
T a án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Hóa - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự ph c th m thụ lý số: 217/2019/TLPT-HS ngày 06 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Văn H. Do có kháng nghị của Viện tr ởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đối với Bản án hình sự sơ th m số: 35/2019/HS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố S.
- Bị cáo bị háng nghị: Nguyễn Văn H, sinh năm 19XX, tại tỉnh C; Nơi c tr : Khu phố B, thị trấn K, huyện K, tỉnh K; Chỗ ở: Không ổn định; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: XX/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 19XX và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 19XX; Vợ: Trần Thị Th y A, sinh năm 19XX (đã ly hôn); Có 01 con, sinh năm 2XXX; Tiền án, tiền sự: Không; Bắt tạm giam: ngày 11/4/2019. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố S (có mặt tạiphiênt a).
Bị cáo Nguyễn Văn H, ng ời bị hại và đại diện hợp pháp cho ng ời bị hại không có kháng cáo.
NỘI DUNG V ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:
Khoảng 16 giờ ngày 06/01/2019, Nguyễn Văn H điều hiển xe mô tô biển số 60Y3-XXXX trên đ ờng đi làm về, hi đến giao lộ đ ờng Trần Ph và đ ờng Tôn Đức Thắng thuộc hóm X, ph ờng X, thành phố S thì Hiếu phát hiện em Võ Ph ơng Ngọc A1 đang điều hiển xe mô tô biển số 66S1-XXXXX l u thông trên đ ờng Tôn Đức Thắng, d ới hộc cổ xe bên trái có để 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Pro, phía sau chở chị Bùi Thị Thanh X. Thấy vậy, H liền điều hiển xe chạy theo sau xe của A1 nhằm mục đích chiếm đoạt điện thoại.
Khi đến tr ớc tiệm Internet Fatasy trên đ ờng Nguyễn Văn Trỗi thuộc khóm T, ph ờng A, thành phố S thì A1 dừng lại, đậu xe sát vào lề đ ờng. Sau đó, A1 và chị X đi vào tiệm Internet Fatasy nh ng vẫn để điện thoại di động trên xe. Lúc này, H quan sát xung quanh thấy hông có ng ời trông giữ nên điều hiển xe chạy đến xe của A1 rồi dùng tay lấy điện thoại di động đ ợc để d ới hộc cổ xe, sau đó H cất giấu điện thoại vào trong t i quần. Sau hi lấy điện thoại xong, H điều hiển xe mô tô chạy đến cửa hàng mua bán điện thoại di động và dịch vụ cầm đồ Thảo Ngọc tọa lạc khóm T, ph ờng T, thành phố S bán điện thoại vừa lấy đ ợc cho anh Nguyễn Lê T với giá 2.200.000 đồng, số tiền có đ ợc H tiêu xài cá nhân hết. Ngày 09/01/2019, anh T đã bán lại điện thoại di động trên cho một ng ời thanh niên ( hông rõ họ tên, địa chỉ) với giá 2.400.000 đồng nên hông thu hồi đ ợc.
Đối với em A1 sau hi phát hiện bị mất điện thoại đã đến gặp chủ tiệm Internet Fatasy nhờ iểm tra lại hệ thống camera và trình báo sự việc đến Công an ph ờng A, thành phố S để giải quyết. Qua điều tra, xác định H là ng ời chiếm đoạt điện thoại của A1.
Tại biên bản và ết luận định giá tài sản số 12/HĐ.ĐGTS ngày 07/3/2019 của Hội đồng định giá tài sản thành phố S ết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Pro (ch a thu hồi đ ợc, đã qua sử dụng) có giá trị là 3.300.000 đồng.
Quá trình điều tra, em A1 yêu cầu bị cáo H bồi th ờng trị giá điện thoại di động bị mất số tiền là 3.300.000 đồng, bị cáo H đồng bồi th ờng theo yêu cầu của em A1.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 35/2019/HS-ST ngày 26/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố S đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2019.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 584, 589 của Bộ luật Dân sự: Chấp nhận sự thỏa thuận của các bên.
Bị cáo Nguyễn Văn H bồi th ờng cho em Võ Ph ơng Ngọc A1 số tiền 3.300.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ng ời đ ợc thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết về án phí, lệ phí T a án năm 2016;
Bị cáo Nguyễn Văn H nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ th m và 300.000 đồng án phí dân sự sơ th m.
Ngoài ra,ánsơ thẩm còntuyênvềxửlývậtchứngvàquyềnkhángcáotheoluậtđịnh.
Ngày 21 tháng 8 năm 2019, Viện tr ởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp có kháng nghị số: 16/QĐ-VKS-P7 với nội dung kháng nghị một phần Bản án hình sự sơ th m số 35/2019/HS-ST ngày 26/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố S, đề nghị Tòa án tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc th m vụ án theo h ớng sửa phần án phí dân sự sơ th m, đề nghị áp dụng điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc hội tuyên bị cáo Nguyễn Văn H không phải chịu án phí dân sự sơ th m.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm cho rằng trong quá trình điều tra bị hại Võ Ph ơng Ngọc A1 yêu cầu bị cáo H bồi th ờng số tiền 3.300.000 đồng, bị cáo H đồng ý bồi th ờng. Án sơ th m buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ th m là ch a phù hợp với quy định tại điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp, sửa án sơ th m, áp dụng điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc hội; tuyên bị cáo Nguyễn Văn H không phải chịu án phí dân sự sơ th m.
Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng x t xử nhận định nh sau:
[1] Trong hạn luật định Viện tr ởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp có kháng nghị nên vụ án đ ợc đ a ra x t xử theo trình tự phúc th m.
[2] Tại phiên tòa phúc th m, bị cáo Nguyễn Văn H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Bị cáo Nguyễn Văn H đã thực hiện hành vi l n l t lấy trộm của Võ Ph ơng Ngọc A1 một điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 trị giá 3.300.000 đồng. Hành vi của bị cáo Hiếu là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu của ng ời khác một cách trái pháp luật. Hành vi đó đã làm ảnh h ởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa ph ơng nơi xảy ra vụ án.
[3] Tòa án cấp sơ th m đã x t xử bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ, đ ng ng ời, đ ng tội, đ ng pháp luật. Tuy nhiên, về trách nhiệm dân sự, cấp sơ th m chấp nhận sự thỏa thuận của các bên. Bị cáo Nguyễn Văn H bồi th ờng cho em Võ Ph ơng Ngọc A1 số tiền 3.300.000 đồng là ch a phù hợp. Bởi lẽ, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, giữa bị cáo và bị hại ch a thỏa thuận đ ợc với nhau về việc bồi th ờng thiệt hại. Tại Bản kết luận điều tra số 34/BKLĐT-CQCSĐT ngày 10/6/2019, trong Biên bản hỏi cung bị can số 140/BB-VKSND-TP.SĐ ngày 26/6/2019, Cáo trạng số 35/CT-VKSND-TP.SĐ ngày 27/6/2019 và Biên bản phiên tòa hình sự sơ th m ngày 26/7/2019 đều thể hiện nội dung bị hại A1 yêu cầu bị cáo H bồi th ờng 3.300.000 đồng do bị cáo ch a bồi th ờng cho ng ời bị hại. Mặt khác, trong quá trình điều tra không thể hiện căn cứ nào để cho rằng các bên đã có thỏa thuận đ ợc với nhau về việc bồi th ờng thiệt hại. Tại phiên t a sơ th m, ng ời bị hại và ng ời đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt. Ng ời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại và vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa vẫn yêu cầu Hội đồng xét xử sơ th m buộc bị cáo bồi th ờng cho bị hại. Cấp sơ th m chấp nhận sự thỏa thuận của các bên là ch a chính xác mà phải tuyên buộc bị cáo Hiếu bồi th ờng cho bị hại A1 số tiền 3.300.000 đồng mới phù hợp quy định của pháp luật. Xét thấy cần sửa lại cách tuyên án ở phần này cho phù hợp. Do đó, việc kháng nghị của Viện tr ởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là có căn cứ một phần vì có việc kháng nghị này mà mới phát hiện ra thiếu sót nêu trên của Bản án sơ th m, mặc dù hông làm thay đổi về đ ờng lối giải quyết vụ án.
Xét kháng nghị số 16/QĐ-VKS-P7 với nội dung kháng nghị một phần Bản án hình sự sơ th m số 35/2019/HS-ST ngày 26/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố S, đề nghị Tòa án tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc th m vụ án theo h ớng sửa phần án phí dân sự sơ th m, đề nghị áp dụng điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc hội tuyên bị cáo Nguyễn Văn H không phải chịu án phí dân sự sơ th m là không có căn cứ. Bởi lẽ, tại điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc hội quy định: “Tr ớc khi mở phiên t a, đ ơng sự, bị cáo thỏa thuận đ ợc với nhau về việc bồi th ờng thiệt hại và đề nghị Tòa án ghi nhận việc bồi th ờng thiệt hại thì họ không phải chịu án phí dân sự sơ th m…”. Trong vụ án này, từ giai đoạn điều tra, truy tố cho đến khi xét xử, các bên vẫn ch a thỏa thuận đ ợc với nhau về việc bồi th ờng thiệt hại và cũng hông yêu cầu Tòa án ghi nhận việc bồi th ờng thiệt hại nên việc buộc bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ th m là hoàn toàn phù hợp với quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc hội.
[4] Từ những nội dung trên, x t đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là ch a phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Các phần khác của quyết định bản án sơ th m không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
Căn cứ điểm a, b hoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng nghị số 16/QĐ-VKS-P7 ngày 21 tháng 8 năm 2019 của Viện tr ởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Giữ nguyên quyết định Bản án sơ th m về phần án phí. Sửa cách tuyên án sơ th m về phần trách nhiệm dân sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2019.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 589 của Bộ luật Dân sự;
Buộc bị cáo Nguyễn Văn H bồi th ờng cho Võ Ph ơng Ngọc A1 số tiền 3.300.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ng ời đ ợc thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết về án phí, lệ phí T a án năm 2016;
Bị cáo Nguyễn Văn H nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ th m và 300.000 đồng án phí dân sự sơ th m.
Các phần hác của quyết định bản án sơ th m hông có háng cáo, háng nghị có hiệu lực ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.
Bản án ph c th m có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC (Vụ GĐ-KT1); - VKSND Tỉnh; - Ban Nội chínhTỉnh ủy; - SởT pháp Tỉnh; - TAND –VKSND TP .S; - ChicụcTHADS TP.S; - Cơ quan CSĐT CA TP.S; - Cơ quanTHAHS Công anthành phố S; - Nhàtạm giữ Công anthànhphốS; - Phòng hồsơnghiệp vụ Công anTỉnh; - Phòng KTNV-THA TA Tỉnh; - Bị cáo,bịhại; - L u:VT,hồ sơ vụán (M). | TM. HỘI ĐỒNG X T X PH C TH M TH M PHÁN - CHỦ T A PHI N TÒA (Đã ký) Lê Khắc Thịnh |