- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Đỗ Thị Đ - Đoàn Nghĩa H"
- Tòa quyết gì? Căn ứ vào Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 239/2017/DS-PT Ngày: 18-12-2017 v tr n p hợp đồng chuyển n ượng quyền sử dụng đ t và tranh ch p quyền sử dụng đ t |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Son
Các thẩm phán:
Ông Nguyễn Duy Lâm
Ông Lâm Văn Be
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Nguyện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Châu, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 175/2017/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ t ẩm số: 92/2017/DS-ST ngày 03 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo quyết địn đư vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 204/2017 QĐPT-DS ngày 21 tháng 11 năm 2017, giữ á đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Đ, sin năm 1941; Địa chỉ ư trú: Số 3, hẻm 99, Đường Cách Mạng Tháng Tám, khu phố Hiệp Ng ĩ , p ường HN, TN1, tỉnh TN2; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn ăn V, sin năm 1960; Địa chỉ ư trú: 391 16 7D, Đường HTP, khu phố 1, p ường Tân Thuận Đông, Quận 7, Thành phố H1 là đại diện theo ủy quyền của bà Đ (theo ăn bản ủy quyền ngày 20-7-2016); có mặt.
2. Bị đơn:
2.1. Ông Đoàn Ng ĩ H, sin năm 1962; vắng mặt.
2.2. Bà Phạm Thị Thúy T, sin năm 1963; vắng mặt.
Cùng địa chỉ ư trú: Số 1, hẻm 99, Đường Cách mạng tháng Tám, khu phố Hiệp Ng ĩ , p ường HN, TN1, tỉnh TN2.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Phan Thị Hồng L, sin năm 1973; Địa chỉ ư trú: Số 1251, Đường Cách mạng tháng Tám, khu phố Hiệp Ng ĩ , p ường HN, TN1, tỉnh TN2 là đại diện theo ủy quyền của ông H, bà T (theo văn bản ủy quyền ngày 15-8-2016); có mặt.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Phan Thị Hồng L1, sin năm 1973; Địa chỉ ư trú: Số 1251, Đường Cách mạng tháng Tám, khu phố Hiệp Ng ĩ , p ường HN, TN1, tỉnh TN2; có mặt.
3.2. Ông Trần Duy L2, sin năm 1965; trú tại: Số 3, hẻm 99, Đường Cách Mạng Tháng Tám, khu phố Hiệp Ng ĩ , p ường HN, TN1, tỉnh TN2; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của ông L2: Ông Nguyễn ăn V, sin năm 1960; Địa chỉ ư trú: 391 16 7D, Đường HTP, khu phố 1, p ường Tân Thuận Đông, Quận 7, Thành phố H1 là đại diện theo ủy quyền của ông L2 ( ăn bản ủy quyền ngày 20-7-2016); có mặt.
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Đỗ Thị Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ngày 24 tháng 4 năm 2016 của nguyên đơn và quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn V trình bày:
Năm 1953, ông Trần Kim Dơi được Hội t án C o Đài p cho 01 phần đ t diện tích 25m x 30m tọa lạc tại khu phố Hiệp Ng ĩ , p ường HN hiện nay. Gia đìn ông Dơi sử dụng đến năm 1992 t ì do bà Đ quản lý và sử dụng và chuyển n ượng cho ông Nguyễn ăn Bá (đã ết), bà Đin T ị Ngọc Hồng 01 phần đ t diện tích ngang 5m, chiều dài hết đ t có tứ cận: Đông giáp đường lộ; Tây giáp hàng rào Viện kiểm sát; Nam giáp Trần Duy L2; Bắ giáp bà Đỗ Thị Đ. Do đ t ư được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t nên hai bên làm đơn xin chuyển n ượng đ t thổ ư và được UBND xã HN, huyện Hòa Thành xác nhận.
Ngày 13-5-1994, bà Hồng làm Gi y chuyển n ượng lại phần đ t trên cho anh H, chị T. Anh H, chị T được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t diện tích 100m2 thuộc thửa số 52 tờ bản đồ số 23 tọa lạc Hẻm 99, Đường Cách mạng tháng Tám, khu phố Hiệp Ng ĩ , p ường HN, TN1, tỉnh TN2. S u đó, n H, chị T xây nhà l n chiếm thêm của bà Đ chiều ngang 0,4m x dài hết đ t. Do đó, hai bên thỏa thuận bà Đ đồng ý bán o gi đìn n H thêm chiều ngang 1m, hết chiều dài với giá 6 chỉ vàng 24k. Tuy nhiên, anh H, chị T không trả 06 chỉ vàng 24k n ư t ỏa thuận. Do gi đìn i bên t ân t iết bà Đ có nhắc nhiều lần anh H, chị T hứ n ưng k ông trả. Đến năm 2015, bà Đ phát hiện anh H, chị T làm gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t tăng lên l n vào đ t của bà Đ nên bà có đơn yêu ầu ngừng việ điều chỉnh diện tí đ t tăng. S u này, n H, chị T còn bán luôn 1m ngang l n chiếm từ bà Đ cho chị Phan Thị Hồng L1.
Do đó, n y bà Đ khởi kiện yêu cầu anh H, chị T trả lại diện tích 1m ngang đ t, chiều dài hết đ t cho bà Đ và yêu cầu giao trả lại phần đ t đường 4m nay là thửa 62, tờ bản đồ số 23 cho bà Đ, k i nào N à nước mở đường, có chủ trương quy hoạ t ì gi đìn bà m kết tháo dỡ.
Theo bản tự khai ngày 20-6-2016; Đơn phản tố ngày 04-7-2016 và trong quá trình giải quyết vụ án anh H, chị T và người dại diện theo ủy quyền chị L trình bày:
Ngày 13-5-1994, bà Hồng làm Gi y chuyển n ượng đ t thổ ư o n H, chị T phần đ t diện tích ngang 5m, chiều dài hết đ t có tứ cận: Đông giáp đường lộ; Tây giáp hàng rào Công an hình sự; Nam giáp Trần Duy L2; Bắ giáp bà Đỗ Thị Đ. Cùng ngày, anh L2, bà Đ có thỏa thuận bán cho anh H, chị T 01m đ t giáp phần đ t mua của bà Hồng với giá 06 chỉ vàng 24k. Do đ t ư ó gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t nên hai bên xác nhận tại Ban quản lý p Hiệp Ng ĩ và Ủy ban nhân dân xã HN. Ngày 14-6-1994, anh H được UBND huyện Hòa Thành c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t diện tích 100m2 thuộc thửa 1462, tờ bản đồ số 3 t eo GCNQSDĐ số C879517 đối với phần đ t mua của bà Hồng. Năm 1994, s u k i được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t thì anh H xây nhà với diện tí 5,4m ng ng, dài 11m. Năm 1998 n H xây tiếp phần đ t phía sau nối liền với n à trướ đó đã xây với diện tích ngang 6m, dài hết đ t và rào hàng rào và sống ổn định không ai tranh ch p o đến nay,
Nay anh H, chị T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Đ vì đã t n toán xong 06 chỉ vàng 24k. Nếu bà Đ, anh L2 cho rằng anh H, chị T ư t n toán thì khi xây lại nhà anh L2, bà Đ đã ngăn ản n ưng t ực tế không có b t cứ tranh ch p nào. Đồng thời, anh H, chị T k ông đồng ý với yêu cầu trả lại lối đi diện tí 4m ng ng đ t vì đây là đ t quy hoạ đường 4m. Anh H, chị T ũng không yêu cầu giao phần đ t đường 4m cho anh chị.
Anh H, chị T có yêu cầu phản tố buộc bà Đ, anh L2 tiến hành thủ tục chuyển n ượng diện tí đ t theo hàng rào thực tế và Sơ đồ mô tả hiện trạng thử đ t tranh ch p ngày 27-9-2016 của Công ty Trắ địa và bản đồ Miền Nam tứ cận thực tế n ư s u: Đông giáp đường 10m dài 1m; Tây giáp hàng rào Công an hình sự dài 1m; Nam giáp thửa 1462 của anh H dài hết đ t; Bắ giáp bà Đỗ Thị Đ dài 22,49m.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Phan Thị Hồng L1 trình bày theo bản tự khai ngày 28-6-2016 và trong quá trình giải quyết vụ án: Ngày 03-11-2015, chị có chuyển n ượng của anh H chị T phần đ t theo gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t diện tích 100m2, diện tích thực tế 136,3m2 thuộc thửa 1462, tờ bản đồ số 3 theo gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số C879517. Hai bên làm hợp đồng chuyển n ượng có công chứng. Chị L1 đã gi o đủ tiền và anh H, chị T đã gi o n à, đ t cho chị L1 quản lý sử dụng. Khi chị L1 làm thủ tục chuyển quyền và điều chỉnh diện tí đ t tăng t ì n L2, bà Đ ngăn ản. Nay ra Tòa, chị L1 k ông đồng ý yêu cầu của bà Đ đối với anh H. Đối với việc chuyển n ượng quyền sử dụng đ t giữa chị và anh H, chị T chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 92/2017/DS-ST ngày 03-8-2017 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh tuyên xử:
Căn ứ Điều 256, 695, 699 Bộ luật dân sự 2005; Điểm b.2 Khoản 2 Mục II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy b n t ường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:
Không ch p n ận yêu ầu khởi kiện củ bà Đỗ Thị Đ đối với n Đoàn Ng ĩ H, chị Phạm Thị Thúy T về việc trả lại tiền s ng n ượng đ t theo giá thực tế là 100.000.000 đồng.
Đìn ỉ việc giải quyết yêu cầu khởi kiện củ bà Đỗ Thị Đ đối với anh Đoàn Ng ĩ H, chị Phạm Thị Thúy T về việc T trả lại phần đ t có diện tí đo đạc thực tế 87m2 (chiều ngang 4m, dài hết đ t) hiện nay thuộc thửa 334, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại xã HN, huyện Hoà Thành (nay là p ường HN, TN1), tỉnh TN2.
Ch p nhận yêu cầu phản tố củ n Đoàn Ng ĩ H, chị Phạm Thị Thúy T đối với bà Đỗ Thị Đ.
Anh H, chị T được quyền sử dụng phần đ t phần đ t có tứ cận thực tế n ư s u: Đông giáp đường 10m dài 1m; Tây giáp hàng rào Công an hình sự dài 1m; Nam giáp thửa 1462 của anh H dài hết đ t; Bắc giáp thửa 1332 củ bà Đỗ Thị Đ dài 22,49m (t eo Sơ đồ mô tả hiện trạng thử đ t tranh ch p ngày 27-9-2016 của Công ty Trắ địa và bản đồ Miền Nam)
Kiến nghị Ủy ban nhân TN1 làm thủ tục c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho anh H, chị T phần đ t có tứ cận thực tế n ư s u: Đông giáp đường 10m dài 01m; Tây giáp hàng rào Công an hình sự dài 01m; Nam giáp thửa 1462 của anh H dài hết đ t; Bắc giáp thửa 1332 của bà Đỗ Thị Đ dài 22,49m.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về i p í đo đạ , định giá, ng ĩ vụ chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo củ á đương sự.
Ngày 15-8-2017, bà Đỗ Thị Đ ó đơn k áng áo toàn bộ bản án sơ t ẩm, cho rằng c p sơ t ẩm xử không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của bà, mà ch p nhận theo yêu cầu của anh H, chị L1 là ư đán giá đúng ứng cứ, ư xem xét khách quan, toàn diện yêu cầu của bà. Yêu cầu c p phúc thẩm xét xử theo ướng sử án sơ t ẩm, ch p nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà, buộc anh H giá trị 01 m ng ng đ t theo giá hiện nay là 100.000.000 đồng. Bà yêu cầu xác địn 4 m ng ng ư được c p gi y có diện tích 87 m2 là thuộc quyền sử dụng của bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Hai bên không cung c p thêm chứng cứ mới.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Việc ch p hành pháp luật củ người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không ch p nhận kháng cáo của bà Đỗ Thị Đ, giữ nguyên bản án sơ t ẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử điều chỉnh lại phần án p í sơ t ẩm bà Đ phải chịu đối với yêu cầu phản tố của anh H được ch p nhận cho phù hợp t eo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tò và ăn ứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
Về quan hệ tranh ch p, bà Đ yêu cầu anh H trả 06 chỉ vàng 24K tiền mua 01 m ng ng đ t năm 1994 ư trả, trị giá hiện nay là 100.000.000 đồng. Anh H xác nhận ó mu và đã trả tiền xong, nhận đ t xây nhà từ năm 1994, 1998, anh H đã s ng n ượng lại toàn bộ n à và đ t cho chị L1. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh H có yêu cầu phản tố buộc bà Đ thực hiện hoàn t t việc chuyển n ượng cho anh H. Bà Đ còn yêu cầu xá định phần đ t có diện tích 87 m2 ư được c p gi y mà anh H đã rào là thuộc quyền sử dụng của bà. C p sơ thẩm xá định quan hệ tranh ch p là “Đòi lại tài sản, tranh ch p hợp đồng chuyển n ượng quyền sử dụng đ t, yêu cầu thực hiện thủ tục chuyển n ượng quyền sử dụng đ t” là thừa, mà hai bên thừa nhận ó s ng n ượng quyền sử dụng đ t n ưng ư t ực hiện thủ tụ s ng tên, t n toán, nên xá định lại quan hệ tranh ch p này là “Tr n
p hợp đồng chuyển n ượng quyền sử dụng đ t” là đủ. Bà Đ yêu cầu xá định phần đ t 87 m2 mà anh H đã rào lại là thuộc quyền sử dụng của bà, anh H khai không liên qu n đến n , mà đó là đ t công củ n à nước nên quan hệ tranh ch p phần này là “Tr n
p quyền sử dụng đ t”. N ư vậy, cần xá định lại quan hệ tranh ch p này là “Tr n
p hợp đồng chuyển n ượng quyền sử dụng đ t và tranh ch p quyền sử dụng đ t” mới chính xác.
Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo của bà Đ, yêu cầu phản tố của anh H th y rằng: bà Đ, anh H thống nh t k i, năm 1992 bà Đ, anh L2 có sang nhượng o ông Bá (đã ết), bà Hồng phần đ t có diện tích ngang 5 m, chiều dài hết đ t giá 13 chỉ vàng 24K, chị Hồng đã trả đủ vàng, nhận đ t, các bên không tranh ch p. Đến năm 1994, ị Hồng sang toàn bộ phần đ t đã mu o n H, do đ t ư được c p gi y nên hai bên làm gi y tay ngày 13-5-1994, diện tích ngang 5 m x 23 m, giá 6 chỉ vàng/1m ngang = 30 chỉ vàng 24K. Trong gi y tay này, anh L2 có ghi thêm sau nội dung chị Hồng đã s ng n ượng đ t cho anh H, nội dung ghi có bán cho anh H một mét đ t giáp với đ t trên, giá 06 chỉ vàng, nay viết lại để làm bằng chứng sau này. Gi y t y đều có chữ ký của anh H, chị Hồng, bà Đ, anh L2 và được p, và Ủy ban nhân dân xã (nay là p ường) xác nhận. Sau k i mu đ t, anh H đã n ận đ t, xây n à năm 1994, mặt tiền ăn n à ó iều ng ng 5,4 m, năm 1998, xây mặt hậu có chiều ngang 6 m (hết chiều ngang củ đ t). Ngày 14-6-1994, anh H được c p gi y 100 m2 (diện tí đo t ực tế là 136,3 m2). Ngày 07-11-1994, bà Đ được c p gi y diện tích 452 m2 (có 01 m ngang anh H đã mu ). Riêng 01 m ng ng n H mua thêm của bà Đ thì bà Đ, anh L2 k i ư trả 06 chỉ vàng, còn anh H k i đã trả đủ trướ k i xã ký và đã n ận đ t, xây nhà từ năm 1994. Đến tháng 11-2015, khi anh bán toàn bộ n à, đ t cho chị L1, thì bà Đ ó đơn ngăn ản không cho sang tên và yêu cầu xá địn 4m đ t ư p gi y là thuộc quyền sử dụng của bà.
Ngoài việ mu t êm 01 m ng ng đ t, giá 06 chỉ vàng 24K, anh H, anh L2 còn thống nh t khai: Ngày 02-4-1994, anh L2 có làm gi y tay nhận cọc của anh H 01 chỉ vàng 24K về việc chuyển n ượng đ t thổ ư 5 m x 23 m, số vàng còn lại khi làm thủ tục công chứng sẽ gi o đủ. Ngày 07-4-1994, anh L2 có làm gi y nhận cọc 1 chỉ 05 phân vàng, diện tích 5 m x 23 m giá 4 chỉ vàng/1m ngang = 20 chỉ vàng (02 cây vàng), có chi lo phí chuyển n ượng là 01 chỉ 05 phân vàng (tổng cộng là 21 chỉ 05 phân vàng). Ngày 14-6-1994, anh L2 có làm gi y tay nhận cọc 10 chỉ vàng (01 cây vàng) trên tổng số vàng là 01 cây 06 chỉ vàng, số còn lại sẽ gi o đủ 01-10-1994 (âm lị ), n ưng việ s ng n ượng này không thành, 10 chỉ vàng cọ đã n ận, anh L2 đã trả đủ cho anh H trong năm 1994, hai bên không làm biên nhận, phần đ t này có chiều ngang 3,9 m, diện tích là 87 m2 N à nước quản lý.
N ư vậy, ó ăn ứ xác địn năm 1994, giữa anh L2, bà Đ, anh H có sang n ượng 02 phần đ t riêng: Phần viết thêm của anh L2 trong gi y tay mua bán đ t giữa chị Hồng, anh H ngày 13-5-1994 là 01 m ngang giá 06 chỉ; phần thứ hai có diện tích 5 m x 23 m, giá 04 chỉ vàng/ 1 m ngang (thực tế có 3,9 m ngang diện tích 87 m2). Nay bà Đ, anh L2 khai anh H ư trả 06 chỉ vàng, yêu cầu trả theo giá trị hiện nay là 100.000.000 đồng. Còn anh H k i đã trả xong, lời khai hai bên là khác nhau của 01 m ngang giá 06 chỉ. Đối với phần diện tích 87 m2, anh L2 đã n ận cọ đủ 10 chỉ vàng, n ưng khi chuyển n ượng không thành thì anh L2 đã trả cọc cho anh H xong trong năm 1994.
Xét th y, 01 m ngang hai bên tranh ch p, hai bên thống nh t có sang n ượng, anh L2 có ghi thêm trong gi y t y s ng n ượng đ t giữa chị Hồng, anh H ngày 13-5-1994, nội dung có bán cho anh H 01 m ng ng đ t giá 06 chỉ vàng, nay ghi làm bằng chứng sau này, gi y k ông g i rõ đã trả hay còn nợ. Trong khi các gi y nhận cọc ngày 02-4-1994, ngày 07-4-1994 và ngày 14-6-1994 đều ghi r t rõ đã n ận, số vàng còn lại ư n ận, thời gian phải trả đủ. Sau khi mua bán không thành là sau 01-10-1994, anh L2 đã trả đủ 10 chỉ vàng đã n ận của anh H. Nếu thực ch t 06 chỉ vàng theo gi y tay ngày 13-5-1994 mà anh H ư trả đủ cho anh L2, thì anh L2, bà Đ phải trừ lại trong số vàng 10 chỉ mà anh L2 đư lại cho anh H. Hoặc k i đư vàng cho anh H, anh L2 phải buộc anh H làm biên nhận cam kết sẽ trả nợ, kéo dài thì sẽ chịu hậu quả n ư t ế nào. N ưng n L2 ũng k ông buộc anh H làm gi y nợ, và i bên ũng k ông làm biên nhận trả 10 chỉ vàng này. Trên thực tế, hai nhà liền kề nhau, nếu anh H ư trả đủ vàng mà xây nhà lần đầu năm 1994, xây n à lần hai năm 1998, n L2 phải ngăn ản, n ưng n L2, bà Đ ũng k ông ó ý kiến gì, kéo dài từ tháng 4-1994 đến tháng 11-2015 là trên 21 năm là quá dài. Xét về chứng cứ và thực tế, c p sơ t ẩm ch p nhận lời khai của anh H đã trả đủ 06 chỉ vàng cho anh L2, bà Đ, buộc bà Đ phải thực hiện việc chuyển n ượng quyền sử dụng 1 m ng ng đ t là hợp lý, ó ăn cứ. Anh L2 nại anh H trả 06 chỉ vàng phải có biên nhận là ư đủ ăn ứ. Bà Đ k áng áo n ưng k ông ung p chứng cứ gì mới nên k ông ó ơ sở xem xét.
Đối với phần diện tích 87 m2 là đ t công N à nướ đ ng quản lý, ư được c p gi y cho ai, c p sơ t ẩm đìn ỉ do bà Đ ư đủ điều kiện khởi kiện t eo Điều 192, 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là ó ăn ứ. Đây là thủ tục hành chính, bà Đ th y đủ điều kiện t ì ó đơn kê k i xin được c p gi y, ơ quan có thẩm quyền là Ủy ban nhân dân huyện Hòa Thành sẽ xem xét giải quyết.
Ch p nhận ý kiến đề xu t giải quyết vụ án củ đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa.
Từ những nhận định trên, xét th y không ó ăn ứ ch p nhận toàn bộ kháng cáo của bà Đ, giữ nguyên bản án sơ t ẩm.
Các khoản khác của bản án sơ t ẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã ó iệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo Khoản 2 Điều 282 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đỗ Thị Đ phải chịu án p í đối với yêu cầu k ông được ch p nhận trị giá 100.000.000 đồng, tương đương với số tiền án p í sơ t ẩm phải chịu là 5.000.000 đồng. Đối với yêu cầu phản tố của anh H được ch p nhận, bà Đỗ Thị Đ phải chịu án phí dân sự không có giá ngạch về phần này là 200.000 đồng. Tổng cộng bà Đ phải chịu 5.200.000 đồng án phí dân sự sơ t ẩm.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn ứ t eo quy định tại Khoản 2 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy b n t ường vụ quốc hội, bà Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Điều chỉnh lại án p í sơ t ẩm đối với phần yêu cầu phản tố của anh H được ch p nhận là bà Đ phải chịu 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn ứ vào Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không ch p nhận kháng cáo của bà Đỗ Thị Đ.
Giữ nguyên bản án sơ t ẩm.
Căn ứ Điều 256, 695, 699 Bộ luật dân sự 2005; Điểm b.2 Khoản 2 Mục II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy b n t ường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;
1. Không ch p n ận yêu ầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Đ đối với n Đoàn Ng ĩ H, chị Phạm Thị Thúy T về việc trả lại tiền s ng n ượng đ t theo giá thực tế là 100.000.000 đồng.
2. Đìn ỉ việc giải quyết yêu cầu khởi kiện củ bà Đỗ Thị Đ đối với anh Đoàn Ng ĩ H, chị Phạm Thị Thúy T về việc T trả lại phần đ t có diện tí đo đạc thực tế 87 m2 (chiều ngang 3,9 m, dài hết đ t) hiện nay thuộc thửa 334, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại xã HN, huyện Hoà Thành (nay là p ường HN, TN1), tỉnh TN2.
3. Ch p nhận yêu cầu phản tố củ n Đoàn Ng ĩ H, chị Phạm Thị Thúy T đối với bà Đỗ Thị Đ.
Anh H, chị T được quyền sử dụng phần đ t phần đ t có tứ cận thực tế n ư s u: Đông giáp đường 10 m dài 1 m; Tây giáp hàng rào Công an hình sự dài 1 m; Nam giáp thửa 1462 của anh H dài hết đ t; Bắc giáp thửa 1332 củ bà Đỗ Thị Đ dài 22,49 m (t eo Sơ đồ mô tả hiện trạng thử đ t tranh ch p ngày 27-9-2016 của Công ty Trắ địa và bản đồ Miền Nam)
Kiến nghị Ủy ban nhân TN1 làm thủ tục c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho anh H, chị T phần đ t có tứ cận thực tế n ư s u: Đông giáp đường 10 m dài 01 m; Tây giáp hàng rào Công an hình sự dài 01 m; Nam giáp thửa 1462 của anh H dài hết đ t; Bắc giáp thửa 1332 củ bà Đỗ Thị Đ dài 22,49 m.
4. Về lệ phí: Bà Đ phải chịu 4.200.000 đồng i p í đo đạ , định giá tài sản. Ghi nhận bà Đ đã nộp xong.
5. Án phí
5.1. Án phí dân sự sơ t ẩm:
- Bà Đ phải chịu 5.200.000 đồng tiền án p í sơ t ẩm. Được kh u trừ và tiền tạm ứng án p í đã nộp 2.500.000 đồng theo biên lai thu tiền số: 0002869 ngày 26-5-2016 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Bà Đ còn phải nộp 2.700.000 (hai triệu, bảy trăm ngàn) đồng.
- Anh H, chị T không phải chịu án phí dân sự sơ t ẩm. Hoàn trả cho anh H, chị T số tiền tạm ứng án phí là 200.000 đồng theo biên lai thu tiền số: 002991 ngày 04-7-2016 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
5.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Đỗ Thị Đ phải chịu 300.000 đồng. Được kh u trừ 300.000 đồng vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0004458 ngày 16-8-2017 của chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh. Ghi nhận bà Đ đã nộp xong.
6. Trường hợp bản án đượ t i àn t eo quy định tại Ðiều 2 Luật Thi hành án dân sự t ì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị ưỡng chế t i àn án t eo quy định tại á điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hàn án được thực hiện t eo quy định tại Ðiều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Thành viên
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Hội đồng xét xử Nguyễn Duy Lâm
Lâm Văn Be
Nguyễn Văn Son
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Tây Ninh; - TAND tp Tây Ninh; - Chi Cục THADS tp Tây Ninh; - Cá đương sự; - Lưu ồ sơ; - Lưu tập án. Các Thẩm phán Lâm Văn Be Đặng Thị Đồng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Son Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Son |