- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "O - Đ"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Đoàn Thị Kim O với ông Nguyễn Hoàng Đ.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 238/2026/HNGĐ-ST Ngày: 14 tháng 7 năm 2026 “V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Phương Quyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thanh Nhàn, bà Võ Thị Kim Chi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Liễu - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân kh vực 11, tỉnh An Giang gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 319/2026/TLST - HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2026 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 241/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 241/2026/QĐST-HN, ngày 24 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị Kim O, sinh ngày 14/4/1998; địa chỉ: ấp T, xã M, thành phố Hồ Chí Minh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng Đ, sinh ngày 04/10/1999; địa chỉ: ấp L, xã N, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, nguyên đơn bà Đoàn Thị Kim O trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Đoàn Thị Kim O và ông Nguyễn Hoàng Đ do quen biết, tìm hiểu nhau trước cả hai đã tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào ngày 19/12/2019 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương (nay là xã M, thành phố Hồ Chí Minh). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, ông Nguyễn Hoàng Đ không quan tâm gia đình vợ con và vợ chồng đã ly thân từ đó cho đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn của vợ chồng đã quá trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Đoàn Thị Kim O yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng Đ.
Về quan hệ con chung: Có một con chung tên Nguyễn Hoàng Khả H, sinh ngày 10/3/2020; hiện đang sống với bà O, khi ly hôn bà O xin được nuôi con và không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Hoàng Đ đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo thụ lý vụ án nhưng vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập ông Nguyễn Hoàng Đ đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng.
Tại phiên tòa sơ thẩm,
Nguyên đơn bà Đoàn Thị Kim O có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Hoàng Đ vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và bị đơn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đoàn Thị Kim O đối với ông Nguyễn Hoàng Đ. Về con chung: Bà Đoàn Thị Kim O được tiếp tục chăm sóc con chung tên Nguyễn Hoàng Khả H, sinh ngày 10/3/2020; ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Bà Đoàn Thị Kim O khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng Đ nên quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Nguyễn Hoàng Đ với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại ấp L, xã N, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân khu vực 11, tỉnh An Giang.
Nguyên đơn bà Đoàn Thị Kim O có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Hoàng Đ vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa nên căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Đoàn Thị Kim O và ông Nguyễn Hoàng Đ là tự nguyện; vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương (nay là xã M, thành phố Hồ Chí Minh) đúng theo quy định nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Về yêu cầu xin ly hôn của bà O: bà O cho rằng trong cuộc sống vợ chồng thì giữa bà với với ông Nguyễn Hoàng Đ phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống thường xuyên cự cãi, ông Đ không quan tâm gia đình vợ con nên mâu thuẫn kéo dài, vợ chồng không có tiếng nói chung mặc dù cả hai đã nhiều lần tìm cách hàn gắn nhưng không được. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Đ biết về việc bà O xin ly hôn với ông cũng như tạo điều kiện để ông Đ, bà O hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông Đ không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và không có ý kiến đối với việc bà O xin ly hôn; điều này chứng tỏ ông Đ không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng nên bà O yêu cầu được ly hôn với ông Đ là có căn cứ và phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
Về quan hệ con chung: Vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Hoàng Khả H, sinh ngày 10/3/2020, hiện đang sống với bà O, khi ly hôn bà O xin được tiếp tục được nuôi con chung và không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con. Nhận thấy trong trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Đ đến Tòa án để giải quyết việc ly hôn, nuôi con của vợ chồng nhưng ông Đ không đến tòa nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông Đ, do đó, Tòa án căn cứ vào ý kiến của bà O mà chấp nhận yêu cầu của bà Đoàn Thị Kim O được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Bên cạnh việc được nuôi con chung thì bà O và gia đình bà O phải tạo điều kiện để ông Đ được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Việc nuôi con không cố định. Về cấp dưỡng nuôi con, do bà O không yêu cầu nên không xét đến.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Do bà Đoàn Thị Kim O không yêu nên không xét đến.
Về án phí: Bà Đoàn Thị Kim O phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 273; Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Đoàn Thị Kim O với ông Nguyễn Hoàng Đ.
2. Về con chung: Có một con chung tên Nguyễn Hoàng Khả H, sinh ngày 10/3/2020;
Bà Đoàn Thị Kim O được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hoàng Khả H, sinh ngày 10/3/2020. Bà O và các thành viên gia đình bà O phải tạo điều kiện để ông Nguyễn Hoàng Đ được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Việc nuôi con không cố định.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Hoàng Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà Đoàn Thị Kim O phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà bà O đã nộp theo biên lai thu số 0002994 ngày 10 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai. Bà O đã thực hiện xong.
Bà Đoàn Thị Kim O, ông Nguyễn Hoàng Đ được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND khu vực 11; - Phòng THADS khu vực 11; - Các đương sự (để thi hành); - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Lưu: HSVA. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Phƣơng Quyền |