vanban.org

Bản án 238/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 16/09/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/09/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Y H Niê – Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2025/HSST ngày 16/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk (nay là TAND khu vực 4 – Đắk Lắk) về hình phạt.

Tuyên bố bị cáo Y H Niê phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Về hình phạt: Áp dụng điểm b, c, khoản 2, Điều 251; điểm r, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số: 238/2025/HS-PT - phạm tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặ sử dụng trá…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Y H Niê – Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2025/HSST ngày 16/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk (nay là TAND khu vực 4 – Đắk Lắk) về hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 238/2025/HS-PT
Ngày: 16 - 9 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Huyền

Các Thẩm phán: Bà Vũ Ngọc Hà, ông Lê Ngọc Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hà – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Vương Chí Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 218/2025/TLPT-HS ngày 28 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo Y H Niê, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2025/HSST ngày 16/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk (nay là TAND khu vực 4 – Đắk Lắk).

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Y H Niê, sinh năm 1995 tại tỉnh Đắk Lắk. Nơi cư trú: Buôn B, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.; Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ học vấn: 9/12. Dân tộc: Ê đê. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Y Nguyên A, sinh năm 1976 và con bà H Roi N1, sinh năm 1974. Bị cáo có vợ là H Jih Ayŭn, sinh năm 1995 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/01/2025 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 01 - Công an tỉnh Đ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Tiến T, sinh năm 1981 - Luật sư thuộc đoàn Luật sư tỉnh Đắk Lắk, Văn phòng Luật sư B, địa chỉ: C N, phường T, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân và nghe nói ở khu vực Km10 (Cây số 10) Quốc lộ 26, thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk có người bán ma túy nên vào khoảng tháng 10/2024, Y H Niê đi xe buýt từ xã E, huyện K đến khu vực Km10, Quốc Lộ 26 để tìm mua ma túy về bán lại kiếm lời. Khi đến nơi Y H gặp và mua của một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) 01 gói ma túy đá với giá 3.000.000 đồng. Sau khi Y H đưa cho người đàn ông này 3.000.000 đồng thì người đàn ông đưa cho Y H 01 túi ZIP bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. Sau đó Y H quay trở về nhà ở buôn B, xã E, huyện K và đem số ma túy mua được cất giấu vào đầu giường ngủ trong phòng của mình. Đến tối cùng ngày Y H lấy một ít ma túy trong túi ZIP ra để sử dụng. Sử dụng xong, Y H lấy 03 phần ma túy trong túi ZIP bỏ vào 03 ống hút nhựa trong suốt và dùng quẹt ga hơ lửa gắn lại hai đầu ống hút nhựa rồi cất giấu vào chổ cũ.

Đến khoảng 19 giờ 00 ngày 01/01/2025, Y G Niê và Y V Êban (là 02 đối tượng nghiện ma túy) cùng trú tại buôn B, xã E, huyện K đến nhà Y hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá để về sử dụng. Y H đồng ý bán và đưa cho Y G 01 ống hút nhựa trong suốt chứa ma túy đá. Y G đưa cho Y H 300.000 đồng còn nợ lại 200.000 đồng. Y G cầm theo ma túy cùng Y V đi về và chia số ma túy mua được thành hai phần mỗi người lấy một phần tự đem về nhà mình, sử dụng. Đến khoảng 19 giờ 30 ngày 01/01/2025, Y W Kbuôr, trú tại Briêng B, xã E, huyện K đến nhà Y hỏi mua ma túy. Y H đồng ý và bán cho Y W 01 ống hút nhựa trong suốt chứa ma túy đá với giá 100.000 đồng. Y W đem ma túy về rẫy cà phê gần nhà Y W thuộc buôn B, xã E và sử dụng hết.

Ngày 03/01/2025, Công an huyện K mời Y, Y V lên làm việc. Y V, Y G khai nhận đã mua ma túy của Y H Niê về sử dụng vào tối ngày 01/01/2025. Quá trình làm việc Y H đã khai nhận việc mua ma túy về cất giấu để bán lại kiếm lời và đã bán cho Y G Niê, Y V Êban và Y W K vào ngày 01/01/2025.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Y H Niê tại buôn B, xã E, huyện K phát hiện, thu giữ vật chứng gồm có: 01 (một) túi ZIP và 01 (một) ống hút nhựa trong suốt bịt kín hai đầu bên trong đều chứa chất rắn tinh thể màu trắng.

Tại kết luận giám định chất ma túy số 174/KL-KTHS, ngày 10/01/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận:

Chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) túi ZIP được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, khối lượng: 1,5140 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) ống hút nhựa trong suốt bịt kín hai đầu được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, khối lượng: 0,1832 gam.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 26/2025/HSST ngày 16/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk (nay là TAND khu vực 4 – Đắk Lắk) đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Y H Niê phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, c, khoản 2, Điều 251; Điểm r, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Y H Niê 08 (T1) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 03/01/2025).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Ngày 30/6/2025, bị cáo Y H Niê có đơn kháng cáo với nội dung xin được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, bị cáo Hòa N vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên.

Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Y H Niê về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo b, c, khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo Y H Niê 08 năm tù là phù hợp với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ gì mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì thêm mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Y H Niê là Luật sư Nguyễn Tiến T trình bày:

Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc (cũ) đã xét xử bị cáo Y H Niê về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b, c, khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tôi đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên, mức hình phạt mà cấp sơ thẩm xử phạt 08 năm tù đối với bị cáo là quá nghiêm khắc so với hành vi phạm tội của bị cáo. Bởi lẽ bị cáo lần đầu phạm tội. Sau khi phạm tội bị cáo đã tự thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tự nguyện giao nộp 300.000 đồng là khoản tiền bị cáo có được từ việc bán ma túy cho Y G Niê và Y V Êban vào tối ngày 01/01/2025. Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần còn hạn chế, bị cáo đã thực hiện xong nghĩa vụ quân sự cho Nhà nước. Vì vậy, tôi đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Lời khai nhận tội của bị cáo Y H Niê tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với biên bản khám xét, bản ảnh hiện trường, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng tháng 10/2024, Y H Niê đi xe buýt từ xã E, huyện K (cũ) đến khu V - Quốc lộ B thuộc phường T, thành phố B (cũ) gặp và mua của 01 người đàn ông (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) 01 gói ma túy loại Methamphetamine (ma túy đá) đựng trong túi Zip với giá 3.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Y H Niê đem về cất giấu ở đầu giường trong phòng ngủ của mình ở nhà tại buôn B, xã E, huyện K (cũ). Sau đó, Y H Niê lấy một ít ma túy ra sử dụng cá nhân. Số còn lại chia thành 04 phần (01 phần ma túy để trong túi Z và 03 phần bỏ trong 03 ống hút nhựa trong suốt và dùng quẹt ga hơ lửa gắn lại hai đầu ống hút nhựa) để ai mua thì bán kiếm lời. Khoảng 19 giờ ngày 01/01/2025, Y H Niê đã bán cho Y G Niê và Y V Êban 01 ống hút nhựa chứa ma túy với giá 500.000 đồng (Y G Niê và Y V Êban chỉ mới trả cho Y H Niê 300.000 đồng). Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Y H Niê tiếp tục bán cho Y W 01 ống chứa ma túy với giá 100.000 đồng. Đến ngày 03/01/2025, cơ quan CSĐT Công an huyện K (cũ) đã khám xét khẩn cấp chổ ở của Y H Niê tại buôn B, xã E, huyện K (cũ) và đã thu giữ toàn bộ số ma túy còn lại gồm: 01 túi Zip chứa ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 1,5140 gam và 01 ống nhựa được bịt kín hai đầu bên trong chứa ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,1832 gam. Do đó, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo Y H Niê về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2, Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo Y H Niê nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an - an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo phạm tội với 02 tình tiết định khung là phạm tội 02 lần trở lên và đối với 02 người trở lên nên cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Khi lượng hình, bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội, xem xét nhân thân, áp dụng đúng và đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng để xử phạt bị cáo mức hình phạt 08 (tám) năm tù phù hợp. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không phát sinh tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới tại cấp phúc thẩm. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, mà cần giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

Bị cáo kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Y H Niê – Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2025/HSST ngày 16/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk (nay là TAND khu vực 4 – Đắk Lắk) về hình phạt.

Tuyên bố bị cáo Y H Niê phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

1. Về hình phạt: Áp dụng điểm b, c, khoản 2, Điều 251; điểm r, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Y H Niê 08 (Tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 03/01/2025).

2. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Y H Niê phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ